hanoi_vip
Posts: 685
Joined: 6/23/2006
Status: offline
|
quote:
ORIGINAL: phong2u Việc một triệu người miền Bắc bỏ chạy vào Nam năm 1954 để trốn chạy Cộng Sản là một sự thật lịch sử mà người Việt ai cũng biết.!?! hanoi_vip oi the ban co tim hieu ly do vi sao ho fai ron chay cong san ko vay ha?. **** da lam gi cho dat nuoc VietNam thi ca the gioi deu biet day ban ah! Việc hơn một triệu người miền Bắc trốn chạy Cộng Sản năm 1954 vào Nam thì cả thế giới ai cũng biết, ngoại trừ một số người sinh sau 1954 tại miền Bắc khi họ bị một hệ thống thông tin độc tài của CS bưng bít như tất cả các tin khác bất lợi cho đảng CS. Hãy xem một đoạn sau đây trong hồi ký "Những Kỷ Niệm Về Bác Hồ" của đồng chí Hoàng Tùng, Bí thư Trung Ương đảng CSVN, một đảng viên CS cấp cao, đã thủ thỉ tâm tình với Hồ Chí Minh, thủ phạm chính của vụ thảm sát CCRĐ, về lý do tại sao hơn một triệu người này bỏ chạy CS: vì chính sách giết người mà không cần đến toà án của chính sách "Cải Cách Ruộng Đất" mà Hồ Chủ tịt đã răm rắp nghe theo chỉ thị của bọn Tàu đỏ. Chính Bí Thư TƯ đảng CS đã tiết lộ là "Bác' làm tay sai cho Nga - Tàu thì làm sao mà sai cho được. - "Mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải thực hiện cải cách ruộng đất ..dẫn ta đến sai lầm trong cải cách ruộng đất. Sau khi đi Trung Quốc và Liên Xô về, Bác chuẩn bị cho Hội nghị cán bộ đầu năm 1953, quyết định cải cách ruộng đất. Trung Quốc cử đoàn cố vấn sang, bao gồm cố vấn công an, cố vấn tổ chức, cố vấn tuyên truyền. Đoàn cố vấn cải cách ruộng đất do Kiều Hiểu Quang làm trưởng đoàn. Kiều là phó bí thư tỉnh uỷ Quảng Tây. Họ muốn qua cải cách ruộng đất để chỉnh đốn lại Đảng ta. Bác viết một bài nhan đề " Terre et eau " (đất và nước) kí tên là Le Ding, đăng ở tạp chí Vi` một nền hoà bi`nh lâu dài, vi` một nền dân chủ mới. Bác nói đại y' : Đất và Nước bao giờ cũng đi liền với nhau, muốn giải phóng nước phải đưa đất cho dân. Bác nói khéo để nói lên việc phải cải cách ruộng đất. Họ muốn qua cải cách ruộng đất để chỉnh đốn lại Đảng ta. Thời gian từ lúc tiến hành cải cách ruộng đất đến lúc dừng là 3 năm. Khi đó tôi thường được dự họp Bộ chính trị do đó cũng biết một số việc. Đó là việc làm thí điểm cải cách ở đồng bằng và chọn đồn điền Nguyễn Thị Năm. Nguyễn Thị Năm tức là Cát Thành Long có một người con làm trung đoàn trưởng ở cục chính trị của Văn Tiến Dũng. Gia đi`nh bà trong dịp Tuần lễ Vàng có hiến 100 lượng vàng. Bà còn tham gia công tác của Hội phụ nữ từ năm 1945 đến 1953. Tôi chưa đến đó lần nào, các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ thường hay ăn cơm ở nhà bà. Gia đi`nh Nguyễn Thị Năm cũng giống như các gia đi`nh Đỗ Đi`nh Thiện, Trịnh Văn Bô giúp đỡ nhiều cho cách mạng. Chọn địa chủ Nguyễn Thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung Quốc. Họp Bộ chính trị Bác nói : " Tôi đồng y' người có tội thi` phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa ". Sau cố vấn Trung Quốc là La Quy' Ba đề nghị măi, Bác nói : " Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải ". Và họ cứ thế làm. Thuyết của họ là không dựa vào tổ chức cũ mà tổ chức lại một số tổ chức khác của Đảng, họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể. Ai lănh đạo cách mạng tháng tám thành công, ai lănh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1953. Thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là cải cách ruộng đất mà là đánh vào Đảng ta. May mà đến năm 1956 ta kịp dừng lại, nếu không thi` tan nát hết. Sau này có những phiên họp Bộ chính trị tôi hay ngồi lại cùng Bác nói chuyện. Có lần Bác trầm ngâm nói : " Mi`nh đă nói để kháng chiến xong đă, mới tiến hành cải cách ruộng đất, cứ ép măi. Mà nếu có làm cũng làm theo cách ta, chứ không theo họ ". Đánh thuế công thương nghiệp, cải tạo tư sản cũng là do Trung Quốc đề ra. Hậu quả là hơn một triệu người di cư vào Nam. Ta đổ tội cho Pháp, Mỹ, điều đó chỉ đúng phần nào, co`n là do ta làm vội, làm ẩu, đánh tràn hết. Không phải địa chủ mà phú nông, thậm chí trung nông cũng đánh. Đảng viên nhiều người tốt cũng bị đánh. "
Đấy là lời thú tội của Hoàng Tùng và HCM về lý do hơn một triệu người miền Bắc trốn chạy CS vào Nam năm 1954. Còn về những "thành quả" khác mà "Bác" đã làm cho dân tộc VN thì hãy xem chính một cựu đảng viện CS cao cấp, người đã ngồi trên T54 tiến vào Dinh Độc Lập của VNCH tại Saigon ngày 30 tháng Tư năm 1975, dưới cương vị chủ bút của tờ QĐND của đảng CS, Đại Tá Bùi Tín như sau: "Bui Tin . Paris, tháng 3/ 2003 ....... Theo tôi, mặt yếu trong tư duy chính trị của ông, cái lỗ hổng đáng tiếc trong lập trường chính trị của ông là sau khi dành lại nền độc lập rồi thì xây dựng đất nước theo mô hình nào ? qủan lý đất nước theo những nguyên tắc nào ? Hầu như trong ngôn từ chính trị của ông, trong Toàn tập Hồ Chí Minh 12 quyển dày cộp, vắng bóng một loạt các từ của thời đại : xã hội công dân ( socìété civile ) ; bàu cử tự do, tranh cử ; nền tư pháp công bằng, lấy luật pháp làm chuẩn ; vị trí của cá nhân trong xã hội ; quyền tư hữu của công dân được xã hội và luật pháp công nhận; tính bất khả xâm phạm về thân thể, về tài sản của cá thể, của tư nhân … Nói gọn lại, trong tư duy chính trị của ông Hồ, khái niệm tự do, dân chủ tuy có được đề cập đến không ít nhưng nội hàm của 2 từ ấy chưa mang những nội dung phổ cập, đầy đủ, cần thiết,tiến bộ nhất. Những khiếm khuyết và bất cập ấy giải thích đầy đủ những hạn chế của cuộc sống Việt nam, những thiếu vắng, bất cập về xã hội, văn hoá và nhân sinh của con người Việt nam, và cả những bi kịch , đau thương của người Việt nam trong cả một thời gian lịch sử dài, từ giữa thế kỷ trước đến tận bây giờ. Đó là một xã hội không còn thực dân và phong kiến, không còn toàn quyền, công sứ, không còn vua quan, lý trưởng và cường hào, nhưng lại là một xã hội đoàn ngũ hoá, gần như trại lính hoá, tinh thần tập thể ngự trị, rất ít chỗ cho tài năng và sáng kiến cá nhân được nảy nở và đua tài. Đó là một xã hội khép kín, gần như không có liên lạc ,trao đi đổi lại với các xã hội láng giềng ( người công dân thường hồi ấy không một ai có điện thoại riêng, hầu như không được tự do gửi thư ra nước ngoài,không ai được nói chuyện với người nước ngoài). Đó còn là một xã hội nghiêm khắc và khắc khổ , chỉ được ca ngợi lãnh tụ, đảng và nhà nước, chỉ được hát những bài hát quy định, chỉ được sáng tạo theo một lý luận, bút pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, đi trệch hướng chính thống thì lập tức bị huýt còi, bị trừng phạt ,bị kiểm thảo, kể cả bị tù đày, xiềng xích không cân xét xử. Đó là một đất nước hầu như không có tự do công dân, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do bầu cử , theo tiêu chuẩn bình thường của thế giới đương đại ; còn thấp kém hơn xã hội thuộc địa dưới thời Pháp thuộc, khi báo chí tư nhân được xuất bản, khi có toà án xử theo luật chứ không theo chỉ thị, mức án được định trước khi xét xử, có luật sư tư và trường đại học luật khoa. Ông Hồ không thể không biết rõ những khiếm khuyết và bất cập ấy nhưng ông tỏ ra hoàn toàn yên lòng về nó. Chiến tranh không đủ được coi là lý do tạm thời cho những lỗ hổng ấy, vì hoàn cảnh miền Bắc có thời gian hoà bình và ổn định khá rõ rệt, có đủ điều kiện để xây dựng một chế độ dân chủ pháp quyền tiến bộ, ngang tầm trung bình của thời đại. Ông Hồ biết rất rõ những bi kịch cá nhân bi đát của giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, tiến sỹ văn học và luật học từ nước Pháp về, ,Giáo sư, Viện trưởng Viên Đại học Hànội, Uỷ viên đoàn chủ tịch Mặt trận Tổ quốc bị tước mất mọi chức vụ ,bị cấm cả dạy tư, chỉ vì dám lên tiếng phân tích những sai lầm của đảng CS trong Cải cách ruộng đất (ông phải bán sách quý theo cân cho người mua giấy vụn ; nuôi một gà mái lấy trứng lần lượt cho vợ ốm, con gái gầy còm và bản thân suy sụp) ; của giáo sư triét học Trần đức Thảo từ Pháp trở về bị ra rìa vì ương bướng không phục tùng đảng ; hơn 30 văn nghệ sỹ đòi tự do sáng tạo trong vụ Nhân văn Giải phẩm bị cải tạo lao đông và xỉ nhục ; rồi hơn 20 nhà chính trị (có cả 4 vị uỷ viên trung ương đảng), có cả tướng, đại tá, nhà văn, nhà báo…trong vụ án xét lại vu vơ ; cho đến số phận phi lý của ông Vũ Đình Huỳnh,thư ký riêng của cụ Hồ từ hồi 1945, đi cùng cụ Hồ sang Pháp năm 1946 ,người đảng viên cộng sản gần ‘’Bác ‘’ nhất,cùng chung một chi bộ đảng 20 năm liền, bị bắt, bị tù 8 năm không xét xử cũng vì cái tội vu vơ « xét lại » ; bà Phạm Thị Tề vợ ông, cũng đảng viên CS kỳ cựu, gửi nhiều thư cho ‘’Bác ‘’ , xin gặp ‘’Bác ‘’ , chỉ cần ‘’Bác ‘’ phán cho một lời để cứu một người từng phục vụ sát mình hơn 20 năm liền bị oan ức , vậy mà không một hồi âm ! ‘’ Bác ‘’ nhìn đi nơi khác, không chút bận tâm ! Cũng như khi ông Hoàng Quốc Việt năm 1953 ở Việt Bắc làm thí điểm Cải cách ruộng đất tại Thái Nguyên chạy đến gặp ‘’Bác ‘’ xin can thiệp vì các cố vấn Tàu đòi xử bắn bà Nguyễn Thị Năm bị chụp mũ là địa chủ ác bá, dù bà có 3 con trai đi bộ đội, từng nuôi nhiều cán bộ CS thời bí mật…, ‘’Bác ‘’ chỉ ừ ầm cho qua chuyện rồi câm tịt, bỏ mặc ! Hèn gì,Học viện Chính trị quốc gia ở Hànội vốn là học viện Nguyễn Ái Quốc vẫn giải thích câu châm ngôn trứ danh của HCM : Không có gì quý hơn Độc lập Tự do , rằng theo truyền thống của châu Á ( ! ), ý của từ tự do là tự do chung của dân tộc, của đất nước ,chứ không có nghĩa là tự do của cá nhân !(tụ do cá nhân là của phương Tây). Theo tôi, phải là người VN , từng sống dưới sự lãnh đạo của đảng, của lãnh tụ cao nhất, từng ‘’subir ‘’ sự lãnh đạo ấy, chịu đựng nó bằng cuộc sống hàng ngày,rồi suốt cả đời, bằng máu thịt của mình, mới có thể cảm nhận và viết nên những nhận định chân thật nhất, sinh động nhất về cái gọi là tiểu sử Hồ Chí Minh. Những lỗ hổng đáng tiếc, những thiếu sót trầm trọng, những bất cập mang tính bi kịch trên đây mà cả xã hội VN gánh chịu trong nửa thế kỷ, nhà nghiên cứu công phu W.J.Duiker không tìm thấy trong các kho tư liệu hiếm, nhưng nó vẫn in đậm trong cuộc đời của triêu triệu con người VN . Một xã hội đến nay tự do tư tưởng, báo chí, ngôn luận,vẫn còn là xa xỉ, xa vời , mang đậm nét gia tài tinh thần mà HCM để lại , để những người lãnh đạo hiện nay cố tình ôm giữ, nhằm cầm giữ toàn xã hội trong cái khung chật hẹp của một đảng duy nhất, một học thuyết duy nhất, một mô hình xã hội duy nhất. Cần nhìn thật rõ cái lỗ hổng toang hoác ấy , để các nhà tư tưởng mới, thế hế lãnh đạo mới , lớp trí thức trẻ hiện tại hiểu trách nhiệm của mình là sắn tay áo phấn đấu đưa đất nước tiến lên ngang tầm với mức phát triển trung bình về chính trị của thế giới, chưa nói đến tầm cao hay đỉnh cao trí tuệ nào !Nếu muốn thoát cảnh chậm tiến nhất về cả kinh tế, đời sống và phát triển ở Đông Nam Á, châu Á và thế giới. Xin thông cảm cho ‘’Bác ‘’.Chớ nặng lời làm gì. Hãy cho người đã khuất yên nghỉ. HCM sinh từ cuối thế kỷ 19, khi chết ,HCM chưa biết gì đến computơ cá nhân, đến điện thoại di động, đến toàn cầu hoá, đến kết thúc chiến tranh lạnh … Khi ở châu Âu từ 1911 đến 1923, HCM như chỉ có một ý nghĩ ,một chủ định dành độc lập cho đất nước, không chú ý gì nhiều đến nền dân chủ nghị viện, đến một mô hình dân chủ nào đó, vì cho rằng giải được bài toán độc lập thì rồi mọi bài toán khác sẽ trôi chảy .Thế rồi cả cuộc đời còn lại ở ngoài nước ,suốt từ 1923 đến 1942,1943 là dưới trướng của Staline và của Mao Trạch Đông, mà HCM tôn thờ ngay là lãnh tụ vĩ đại ‘’Bác bảo đảm với các chú các cô rằng 2 vị này không bao giờ phạm sai lâm ‘’ ( HCM : nói chuyện tại Đại hội ĐCS lần thứ II, tháng 1/1951) . Các học giả nước ngoài viết tiểu sử HCM, nên tìm đọc cuốn ‘’Những kinh nghiệm tiến nhảy vọt của TQ» ký tên Trần Lực – một bút danh của HCM - , do nhà xuất bản Sự Thật của ĐCS in năm 1967 , trong đó HCM ca ngợi hết lời những sáng tạo nấu thép trong sân nhà nông dân và đuổi chim bằng hò hét, trống kèn khắp cả nước Tàu để bảo vệ mùa màng ,cũng như nhảy ương ca trên thảm lúa cao sản. Cái nhìn nhẹ dạ ngây ngô hay sự đồng loã thêu dệt đối với nhà phù thuỷ Tàu họ Mao ? Thế là với niềm tin sắt đá như thế, HCM bê nguyên mô hình Liên Xô và TQ CS vào để xây dựng miền Bắc, rồi cứ thế cho cả nước thống nhất ! ..." Ông Bùi Tín phang "Bác" của ông hơi nặng tay quá, khi coi "Bác" như đứa trẻ con ngây ngô và mù quáng tin theo hai lĩnh tụ CS QT.
< Message edited by hanoi_vip -- 9/26/2007 9:38:33 AM >
|