Thúy Nga Forum
 
 
 

RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nhiều ca khúc

 
View related threads: (in this forum | in all forums)

Logged in as: Guest
Users viewing this topic: none
  Printable Version
All Forums >> [Thúy Nga Female Singers] >> Hoàng Oanh >> RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nhiều ca khúc Page: <<   < prev  6 7 [8] 9 10   next >   >>
Login
Message << Older Topic   Newer Topic >>
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 10/18/2009 4:17:32 PM   
Tamnguyen

 

Posts: 522
Joined: 4/5/2008
Status: offline
Cam on rat nhieu .

(in reply to anhthoa)
Post #: 141
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 10/20/2009 8:52:55 PM   
nguoiyeunhac

 

Posts: 187
Joined: 6/1/2006
Status: offline
Cam on nhieu lam, Anhthoa co bai moi goi them.

(in reply to anhthoa)
Post #: 142
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 10/25/2009 8:03:05 PM   
anhthoa

 

Posts: 4396
Joined: 6/1/2006
Status: offline
10 Nữ Ca Sĩ Có Sức Ảnh Hưởng Nhất Việt Nam

1. Thái Thanh


Thái Thanh “ Một ca sĩ của dân tộc ”. Thái Thanh “ Một tiếng hát dâng hiến tâm tình ” Thái Thanh đã hát cho bao nhiêu thế hệ chúng ta, từ đầu thập niên 50, khi mới 17 tuổi, từ Bắc vào Nam, hơn 20 năm với quê hương chinh chiến.

Tên tuổi Thái Thanh trở nên lẫy lừng từ thập niên 1950 cho đến những ngày cuối của miền Nam Việt Nam. Tiếng hát của bà ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh cũng như truyền hình. Cùng với Thái Hằng, Hoài Bắc, Hoài Trung, Phạm Duy, Khánh Ngọc (vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương) lập nên ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng.

Với 1 giọng ca trong trẻo, cao vút cùng một cách hát và nhả chữ không thể nhầm lẫn, tiếng hát Thái Thanh đã sống cùng trái tim yêu nhạc của bao người qua nhiều thế hệ. Tên tuổi Thái Thanh gắn liền với âm nhạc Phạm Duy & Phạm Đình Chương cùng những ca khúc sống mãi với thời gian: Ngày xưa Hoàng Thị, Đôi Mắt Người Sơn Tây, Dòng Sông Xanh, Nửa Hồn Thương Đau….


2. Khánh Ly


Nhắc đến âm nhạc Trịnh Công Sơn, người ta nhớ ngay đến tiếng hát Khánh Ly. Nghe nhạc Trịnh với giọng ca của Khánh Ly để suy ngẫm về cuộc đời, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của âm nhạc, để thông cảm với một tâm hồn... quá hay, quá đẹp.

Tiếng hát Khánh Ly và nhạc Trịnh Công Sơn đã đi liền với nhau như một định mệnh. Nhạc Trịnh Công Sơn là những bài tình ca cho đất nước, cho dân tộc, và cho tình yêu. Bằng tiếng hát Khánh Ly, và có lẽ chỉ bằng tiếng hát Khánh Ly, những bài hát của Trịnh Công Sơn đã thấm sâu vào tâm hồn mọi người Việt Nam. Ðã mấy chục năm trôi qua từ ngày cô bé Khánh Ly đi chân đất, hát trước hàng ngàn sinh viên Việt Nam và gây xúc động mạnh mẽ với một thứ âm nhạc lạ kỳ. Ngày nay, nhạc Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly đã trở thành một phần của tâm hồn người Việt chúng ta.


3. Lệ Thu


Lệ Thu, một cái tên tiền định hát bằng nước mắt đau thương, bàng bạc như tơ sương của khung trời mùa Thu đất Bắc, như một lời giới thiệu mở đầu … tèng teng teng…Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống, đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông,... Rồi một buổi trưa hè nào đó bên nhà hàng xóm văng vẳng xa vắng Gọi Nắng trên vai em gầy đường xa áo bay,…Chỉ một mỹ từ duy nhất để diễn tả về Lệ Thu thôi “Đẹp”, Lệ Thu là một tiếng hát Đẹp. Thưởng thức tiếng hát Lệ Thu như là thuởng thức một Dung Nhan đẹp đẽ và rắn rỏi.

Ở Lệ Thu, cái đẹp còn ở lối phát âm tiếng Việt khi hát. Nghĩ đến Lệ Thu là mường tượng ngay ra được Vẻ đẹp của tiếng Việt, Nhẹ nhàng, Uyển chuyển và rất tròn vành rõ chữ.


4. Bạch Yến


Với 50 năm góp mặt trong lãnh vực nghệ thuật, Bạch Yến rất xứng đáng được coi là một nữ nghệ sĩ có quá trình hoạt động lâu dài nhất cho đến ngày hôm nay. Với những thăng trầm trong cuộc sống cũng như trong nghề nghiệp, tên tuổi của chị vẫn là một tên tuổi lớn trong việc giới thiệu nền văn hoá Việt Nam với khán giả năm châu qua nhạc dân ca cổ truyền hiện nay cũng như từng góp mặt trong giới "show business" tại Hoa Kỳ trong một thời gian dài.

Giọng hát trầm đặc biệt đó cũng đã trở nên quen thuộc với khán giả Việt Nam từ rất nhiều nãm qua, mặc dù âm sắc rất trầm nhưng giọng hát chị thuộc loại "mezzo soprano", đã góp phần không ít trong việc tạo cho nhạc phẩm "Ðêm Ðông" trở thành bất hủ.


5. Hoàng Oanh


Tiếng hát mật ngọt Hoàng Oanh trải qua nhiều năm tháng, không thể lẫn lộn với bất cứ giọng ca nào. Nó đi sâu vào lòng người, ngất ngây như uống phải thứ men say và gợi nhớ muôn trùng một vùng trời kỷ niệm, đầy ắp thương yêu. Hoàng Oanh là một tài năng đa diện. Với một làn hơi ngọt ngào, nồng nàn tình cảm, Hoàng Oanh đã có khả năng trình bày tất cả các loại nhạc cũng như lối ngâm. Từ những nét sang trọng, dịu dàng, quý phái của nhạc tiền chiến đến những bản dân ca ba miền, những bài tình tứ quê hương, từ những câu Hò mái đẩy miền Trung đến bài vọng cổ miền Nam hay câu Sa mạc, hát ví của miền Bắc…

Tiếng hát cũng như giọng ngâm của Hoàng Oanh có chút gì thật sâu đậm, buồn man mác nhưng thật tình tứ, đã chinh phục được đa số thính giả.


6. Hà Thanh


Có một loài chim khi cất tiếng hót thánh thót vang vọng giữa trời mây sông nước, không gian như lắng đọng để hoà nhập trong âm điệu du dương: Hoàng Oanh. Mang âm hưởng đó, có tiếng ca ngọt ngào, truyền cảm như làn gió nhẹ, như tiếng reo của thuỳ dương, như tơ vương giăng mắc, như sương khói lững lờ, như lời tình tự giữa trăng thanh, như ru ta vào cõi mộng mơ, dìu ta lạc bước vào đất thần kinh với hoàng thành cung điện, với đền đài lăng tẩm, với sông nước hữu tình, với nhạc điệu trầm bỗng, thướt tha: Hà Thanh.

Tên tuổi Hà Thanh đã được giới yêu thích âm nhạc ái mộ với làn hơi trong sáng, êm ái, ngọt ngào, cao sang, mượt mà, bóng bẩy, tình tự quê hương, có nét độc đáo trong âm điệu đất thần kinh. Tuy yêu nghề nhưng chưa dấn thân vào nghiệp, Hà Thanh vẫn tiếp tục con đường học vấn, chỉ hát ở Huế nhưng những ca khúc được trình bày đã vang xa khắp bốn phương trời qua lán sóng phát thanh của Đài phát thanh Huế, đánh dấu sự chờ đợi, hẹn hò của các trung tâm phát hành đĩa nhạc ở Thủ đô Sài Gòn.


7. Phương Dung


Cô nổi tiếng năm 17 tuổi sau khi trình bày thành công bài hát "Nỗi buồn gác trọ" của Mạnh Phát và Hoài Linh vào năm 1962, sau đó tiếng hát của cô đã đi vào lòng người với bài hát "Những đồi hoa sim" năm 1964, Dzũng Chinh phổ thơ của nhà thơ Hữu Loan. Năm 1965, với bài hát "Tạ từ trong đêm" của nhạc sĩ Nhật Trường - Trần Thiện Thanh, Phương Dung đã nhận được giải huy chương vàng giành cho nữ ca sĩ trong năm, và người nhạc sĩ của bài hát được giải Bài hát xuất sắc nhất trong năm.

Tên tuổi Phương Dung được chắp cánh thêm với mỹ danh "Con Nhạn Trắng Gò Công" mà thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà tặng cho cô. Từ đấy con nhạn trắng Phương Dung bay không mệt mõi trong vùng trời âm nhạc. Hiện nay tuy đã có tuổi nhưng giọng ca của Phương Dung vẫn không phai dần theo năm tháng, vẫn còn đó lối hát tâm tình, cứ như trăn trở về một dĩ vãng ngày xưa. Tiếng hát Phương Dung ngọt ngào mà chơn chất như người con gái Gò Công, luôn được khán thính giả yêu mến tới nay.


8. Bích Chiêu


Là người chị cả trong gia đình nhạc sĩ trứ danh Lữ Liên gồm có các danh ca nổi tiếng khác: Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Lưu Bích, Lan Anh & Thúy Anh.

Bích Chiêu: Cô không đẹp nhưng có duyên. Cô có hàm răng vẩu và lưỡng quyền hơi cao. Nhưng vẻ thông minh tinh quái chiếu sáng chan hòa khuôn mặt cô. Đã vậy, cô rất hồn nhiên, không che đậy khuyết điểm của mình. Thân hình của Bích Chiêu khá nồng nàn và khá cân đối. Đã vậy cô biết hóa trang và ăn mặt nên trên sân khấu cô có nét gợi cảm và thu hút riêng. Giọng Bích Chiêu phong phú và hơi khàn. Chuỗi ngân cô rập rờn và óng ả.

Bích Chiêu hát rất trội, rất ngậm ngùi những ca khúc tình ái như “You Don’t Know Me” hay “I Went To Your Wedding” dễ làm say lòng người. Tôi còn nhớ Nguyên Sa có câu thơ “trải dài đại lộ bằng tiếng hát Bích Chiêu”. Bích Chiêu vẫn là thần tượng lộng lẫy của giới trẻ vào cuối thập niên 50 và 60.


9. Thanh Thúy


Trong kiếp cầm ca, tiếng hát được nhiều cây bút tên tuổi xuất thủ với ngôn từ độc đáo, tuyệt vời được dàn trải với tha nhân thưởng ngoạn, bồng bềnh theo hình bóng qua bốn thập niên của hậu bán thế kỷ XX, tiếng hát đó đã gói trọn tình khúc, vượt thời gian và không gian, đi vào ký ức, đi vào chiều dài lịch sử trong làng ca nhạc Việt Nam: Thanh Thuý.

Thanh Thúy qua ca khúc trữ tình, lãng mạn của nhiều nhạc sĩ tài danh được mô tả bằng tiếng hát lơ lửng với khói sương, nhấp nhô cùng sóng nước, đam mê theo cung bậc, thì thầm với kẻ tình si, du dương trong tĩnh lặng, vỗ về với yêu thương. Thanh Thuý: Tiếng Hát Liêu Trai, Tiếng Hát Khói Sương, Tiếng Hát Lúc Không Giờ, Tiếng Sầu Ru Khuya, Tiếng Hát Lên Trời, Tiếng Hát Khói Sương Chiêu Niệm... qua nhiều cây bút với ngôn ngữ văn chương không ngần ngại hạ bút để viết về tiếng hát.


10. Ngọc Lan


Nhắc đến các giọng hát Việt Nam hải ngoại, đặc biệt những giọng hát của các ca sĩ trẻ, mới xuất hiện ở ngoài Việt Nam sau 75, chúng ta không thể không ghi nhận giọng hát Ngọc Lan. Ngọc Lan, một giọng hát mà người thưởng ngoạn có thể tìm thấy ở đó, hoặc cả một khung trời mất mát, sầu muộn, nuối tiếc. Hoặc cả một vùng hào sáng, có tuổi xuân đang lớn, đam mê và cuồng nhiệt.

Với chất giọng ngọt ngào, trữ tình, Ngọc Lan nhanh chóng được khán giả biết đến và đã được các trung tâm mời ghi âm . Ngọc Lan đạt được đỉnh cao của tiếng tăm từ khi cộng tác với trung tâm nhạc Mây trên những chương trình Hollywood Nights .

Ngọc Lan được yêu thích qua nhiều nhạc phẩm nước ngoài lời Việt, như Mưa trên biển vắng... Cô cũng trình bày nhiều ca khúc tiếng Pháp, những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên... Cô hát ở rất nhiều thể loại nhạc và dòng nhạc, hiện nay theo một số người sưu tầm nhạc, cô đã trình bày trên 800 ca khúc và trên 40 video clip.

Sau một thời gian dài bị chứng bệnh đa thần kinh hóa sợi hành hạ, Ngọc Lan trút hơi thở cuối cùng vào hồi 8 giờ 25 sáng ngày 6 tháng 3 năm 2001 tại bệnh viện Vencor, Huntington Beach, Nam California.
Trích từ trang web http://www.tranquanghai.com 

(in reply to nguoiyeunhac)
Post #: 143
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 11/2/2009 7:31:07 PM   
anhthoa

 

Posts: 4396
Joined: 6/1/2006
Status: offline
ANH KHOA: với niềm hạnh phúc gia đình tại Hungary




Anh Khoa

Đúng như Anh Khoa nói qua điện thoại với tôi từ Orange County trước khi bay lên San Jose gặp tôi như đã hẹn, tôi đã thấy một Anh Khoa “rất OK và còn nhiều phong độ” sau hơn 30 năm không gặp.  Tôi còn nhớ mãi hình ảnh một Anh Khoa chưa được dạn dĩ lắm khi đến với sinh hoạt ca nhạc lần đầu tiên vào những năm cuối thập niên 60 tại vũ trường Tự  Do – khi đó do Jo Marcel khai thác - sau khi rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn Phan Thiết vào Sài Gòn gọi là để lập nghiệp.

Đó là ý tưởng của một chàng thanh niên sinh và lớn lên trong một gia đình gặp nhiều khó khăn về vật chất khi đó mới bước vào lớp tuổi 20, cho nên  “Khổ quá, con cái phải tự kiếm sống chứ sao bây giờ. Gia đình Khoa khổ lắm!  Mặc dù trong miền Nam tự do no ấm, nhưng gia đình Khoa  quá khổ. Đông con quá mà không có tiền!.”

Những lời tâm sự chân tình của Anh Khoa chắc chắn sẽ khiến nhiều người muốn tìm hiểu sâu xa hơn về cuộc đời của một nam ca sĩ một thời danh tiếng, nay đang lưu lạc ở giữa thủ đô Budapest của Hungary...

Trần Công Khai là tên thật của Anh Khoa.  Anh sinh tại Phan Thiết năm 1948 trong một gia đình có 12 người con.  Số lượng con cái đông đảo đó đến từ cuộc hôn nhân của thân phụ anh với hai chị em ruột. Anh Khoa là người con thứ 4 của người vợ cả, qua đời vào năm 1984.

Người vợ  sau, tức dì ruột của anh cũng đã vĩnh viễn ra đi khi chưa được đầy 30 tuổi. Nếu thân phụ anh tiếp tục đi theo nghề thợ bạc  gia truyền của gia đình và thân mẫu anh không gặp cảnh buốn bán ế ẩm thì gia đình anh không đến nỗi lâm vào cảnh sa sút.

Tại Phan Thiết, Anh Khoa theo học trường trung học Bồ Đề và trường trung học phổ thông Phan Chu Trinh. Trong khi đó anh lại tỏ ra có năng khiếu về ca hát. Nhờ vậy vào năm 1962, anh đã đoạt giải thi đua Văn Nghệ Ấp Chiến Lược Toàn Quốc với nhạc phẩm “Biệt Kinh Kỳ”! 

Thôi thúc bởi sự quyến rũ của âm nhạc, Anh Khoa dành dụm tiền để mua sách về tự học vì gia đình quá nghèo không có phương tiện cho anh theo học  nhạc tại các lớp tư. Tuy vậy anh cũng đã khẩn khoản mẹ sắm cho được  một cây bass guitar. 

Anh mong ước một ngày nào đó được gia nhập vào những ban nhạc trẻ khi phong trào này đang bắt đầu lên cao với những nhạc phẩm của The Beatles khiến cậu thanh niên Trần Công Khai mê mẩn. Anh đã năn nỉ mẹ để có được một cây đàn guitar sau khi mẹ anh phải vất vả đầu này, đầu kia để vay một số tiền.

Cầm được cây đàn trong tay, Anh Khoa không còn cảm thấy niềm vui sướng nào to lớn hơn để cả ngày ôm ấp cây đàn điện thô sơ nhưng rất quí giá đối với tình cảnh cực khổ của gia đình. Niềm vui đó khiến anh lơ là việc học vấn để theo chân bạn bè suốt ngày nghêu ngao đàn ca hát xướng.




Vợ và con gái của Anh Khoa


Cuối cùng giấc mộng của anh cũng như của nhiều thanh thiếu niên thời đó là được chơi đàn chung với một ban nhạc trẻ được thành hình khi cùng các bạn trong tỉnh thành lập ban nhạc lấy tên là The Sea Bees.  Nhưng sự tồn tại của “Những Con Ong Biển” thật quá phù du nên giấc mộng của Anh Khoa cũng sớm tàn lụi theo.

Thời gian này Anh Khoa mới chỉ theo học hết bậc trung  học đệ nhất cấp. Nhưng vì tình trạng túng quẫn của gia đình, anh đã quyết định một thân một mình  vào Sài Gòn với mục đích tìm được một ban nhạc để hợp tác.

Nhạc trẻ tỏ ra đã có một khả năng lôi cuốn anh lạ kỳ mặc dù thật sự khả năng của anh chưa được là bao nên chưa thể gọi là một tay đàn hay giọng hát chuyên nghiệp. Ban nhạc có tên Les Milans là ban nhạc Anh Khoa có dịp hợp tác tại Sài Gòn  trong một thời gian ngắn. Con đường anh dự định theo đuổi hình như không được mấy êm đẹp để rồi anh lại quay về Phan Thiết.

Một lần nữa, Anh Khoa lại lên đường “đi bụi” ngoài Nha Trang qua sự giới thiệu của một người bạn.  Tại đây anh gia nhập một ban nhạc trẻ chơi cho các clubs Mỹ, mặc dù vốn liếng Anh Văn còn rất lõm bõm cũng như  tài nghệ sử dụng đàn bass guitar mới chỉ ở mức sơ đẳng. Tuy nhiên vào thời nàý, khi quân đội Mỹ ồ ạt đổ vàoViệt nam, số ban nhạc trẻ có một tài nghệ tương đối vững vàng còn rất hiếm hoi so với nhu cầu rất lớn. Nhờ vậy, Anh Khoa đã có được một dịp may nên có đồng ra đồng vào trong một thời gian.

Nhưng cũng chỉ được chưa đầy một năm, anh lại quay trở về Phan Thiết cố gắng theo học hết bậc trung học đệ nhị cấp, nhưng không lấy được mảnh bằng tú tài 2, như người anh cả trong gia đình.  Đó cũng là người được coi như có trình độ học vấn tới nơi tới chốn nhất. Trong khi tất cả những anh chị em khác của anh chỉ qua được những năm đầu của trung học.

Chán nản với việc học vấn, buồn bã cho tình trạng nghèo khó của gia đình, Anh Khoa một mình lang thang ra Sông Mao, cách Phan Thiết khoảng 50 cây số để nhờ những thông dịch viên quen biết xin vào đàn hát cho những clubs Mỹ ở đây, luôn cần những phương tiện giải trí. Nhưng rồi sự hợp tác đó không được lâu dài để do sự thôi thúc của định mệnh, Anh Khoa quyết định vào luôn Sài Gòn với mục đích lập nghiệp vào năm 69.

Anh được các quân nhân Mỹ cho đi nhờ một chuyến máy bay vào Sài Gòn để mong gặp lại được những bạn bè cũ trong ban nhạc Les Milans ngày nào. Lần này thì may mắn đến với anh khi được một tay đàn trong ban nhạc này giới thiệu sử dụng bass guitar cho một ban nhạc chơi cho các clubs mỹ ở Tân Bình.

Cũng trong năm 1969, một lần nhạc sĩ piano Võ Đức Xuân trong ban nhạc của Jo Marcel tại vũ trường Tự Do được mời thay thế cho một nhạc sĩ vắng mặt trong ban nhạc có Khoa cộng tác.  Võ Đức Xuân tỏ ra có cảm tình với Anh Khoa nên đã mời anh về sử dụng bass cho ban nhạc Jo Marcel, lúc đó đang thiếu người sử dụng nhạc khí này.  Anh Khoa được thu nhận ngay để  bắt đầu gây được chú ý tại vũ trường Tự  Do qua hình ảnh của một người nghệ sĩ vừa đánh bass, vừa hát với một giọng ca truyền cảm.

Khi cùng theo Jo Marcel về  tầng dưới vũ trường Queen Bee với ban nhạc có tên Mây Bốn Phương thì tên tuổi Anh Khoa khởi đầu cho một giai đoạn mới, trình diễn chung với những ca sĩ nổi danh như Carol Kim, Ngọc Mỹ, Như An, vv... Nhưng phải đợi đến khi anh được Jo Marcel đưa lên hát ở tầng trên của Queen Bee trong chương trình của Lệ Thu do anh khai thác, thật sự Anh Khoa mới tạo được nhiều cảm tình nơi khán giả trong những ca khúc của Vũ Thành An.

Tình cờ trong dịp Anh Khoa được mời lên lầu trên Queen Bee thay thế cho một ca sĩ vắng mặt lại có sự hiện diện của nhạc sĩ họ Vũ, là người đã lên tiếng khen ngợi giọng hát của anh trong nhạc phẩm “Bài Không Tên Số 3” cùng với những tiếng vỗ tay nhiệt liệt của khán giả. Từ đấy, Anh Khoa chú trọng nhiều vào những sáng tác của Vũ Thành An  đặc biệt là những “Bài Không Tên”. Và anh đã trở thành một trong vài nam ca sĩ trình bày thành công nhất những sáng tác của người nhạc sĩ nay đã trở thành một vị Phó Tế. 

Không những chỉ hát nhạc Việt Nam, Anh Khoa vẫn còn mang một tâm hồn rất nhạc trẻ nên cũng được giới trẻ dành cho nhiều cảm tình trong những lần xuất hiện trong những chương trình “Hippies À Go Go” do người viết tổ chức tại Queen Bee và sau là vũ trường Ritz. Thời kỳ này Aquarius/ Let The Sunshine In, Young Girl, Woman và Hey Jude là những nhạc phẩm thường được Anh Khoa trình bầy.

Đến năm 70, Anh Khoa theo Jo qua vũ trường Ritz và bắt đầu thu băng cho những chương trình nhạc do Jo Marcel  thực hiện và hát hầu như trên tất cả băng nhạc của những chương trình này.  Sau đó anh còn được nhiều trung tâm nhạc khác mời thu thanh cùng một lúc.

Bắt đầu xuất hiện nhiều trên TV và những chương trình phát thanh không quân là binh chủng Jo Marcel đã đưa anh vào công tác tại Bộ Tư  Lệnh thuộc ban Tâm Lý Chiến. Khi chương trình ca nhạc hàng đêm do Jo Marcel thực hiện chuyển qua vũ trường Maxim’s vào năm 1972, với vai trò một nam ca sĩ nòng cốt nên Anh Khoa cũng được mời  về theo, cho đến người anh coi như  một người anh lớn là Jo Marcel ngưng cộng tác với vũ trường này.

Anh Khoa đang trong thời kỳ tên tuổi lên cao nên đã được hầu hết các vũ trường lớn ở Sài Gòn mời đón, trong số có phòng trà Khánh Ly trên đường Tự Do, cho đến khi xẩy ra biến cố tháng 4 năm 75.  Anh Khoa cho biết đã không rời khỏi Sài Gòn trong giai đoạn này vì là người ít bạn bè nên không được cập nhật thông tin về những chuyến đi...

Anh Khoa rơi vào tình trạng chán chường và tuyệt vọng khi trước mắt là một tươmg lai vô định. Đang mang tâm trạng đó, anh được thu nhận vào một đoàn hát nhỏ của nghệ sĩ Ngọc Giao đi hát ở một số tỉnh miền Trung trong một tình trạng rất bấp bênh.

Một thời gian sau vào khoảng năm 77, 78, anh được gia nhập ban kịch Thẩm Thúy Hằng cùng với Băng Châu, Thảo Ly, Hoàng Hạc, vv... trong phần phụ diễn tân nhạc.

Sau hơn 1 năm, Anh Khoa bắt đầu ra hát tại các tụ điểm, các câu lạc bộ văn hóa, vv... ở Sài Gòn và được biết đến nhiều qua những nhạc phẩm của nhạc sĩ Trần Tiến: Thành Phố Trẻ, Mặt Trời Bé  Con, Vết Chân Tròn Trên Cát, vv...

Tuy tỏ ra sinh hoạt đều đặn, nhưng ý tưởng vượt biên lúc nào cũng ở trong tâm trí anh. Nhưng tất cả những chuyến vượt biển sau đó của Anh Khoa đều thất bại.  Sau vài lần bị giam giữ, Anh Khoa lại tiếp tục sinh hoạt ca hát trong những năm kế tiếp, với nơi cộng tác cuối cùng là phòng trà Maxim’s trong thời gian các phòng trà và vũ trường được phép hoạt động.




Cô con gái Diana 13 tuổi của Anh Khoa với chiếc nón lá


Vào cuối năm 1988,  một thiếu nữ người Hung Gia Lợi theo bố mẹ - lúc đó thân phụ cô là đại sứ  Hung tại Kăm Pu Chia- lên Maxim’s nghe nhạc và đã để ý ngay đến Anh Khoa để sau đó cùng với bố mẹ gần như đều tới đây nghe anh hát hàng tuần.

Cô thiếu nữ có tên Iren Karsai ngỏ ý muốn làm quen với Anh Khoa qua một  nữ nhân viên của phòng trà. Cô này kể cho Phương Hồng Quế biết để sau đó chính  Phương Hồng Quế là người đứng  ra sắp xếp những lần gặp gỡ cho Anh Khoa và Iren, khi đó mới ngoài 20.

Với khả năng nói được 4 ngôn ngữ  Hung, Nga, Pháp và Anh của Iren, khi đó đã tốt nghiệp đại học ở Nga -  nên vấn đề trao đổi giữa hai người không gặp mấy trở ngại qua trung gian của Anh Ngữ.

Quyết định đi đến hôn nhân của Anh Khoa với  người vợ Hung Gia Lợi có mẹ là người Nga đã gây nhiều bất ngờ trong giớii nghệ sĩ  sau khi tiệc thành hôn được tổ chức trong vòng thân mật tại nhà hàng Majestic vào tháng 8 năm 1989. Sau đó Anh Khoa cùng với vợ qua sống tại Hungary...

Những ngày đầu tiên ở Budapest  cảm thấy rất buồn khi sống giữa một nơi hoàn toàn xa lạ tại Đông Âu... Nhưng một thời gian sau anh may mắn kiếm được việc làm hợp với khả năng của mình  cho một công ty biểu diễn bản xứ.  Để đi hát trên khắp nước Hung.

Vào năm 1991, Anh Khoa được trung tâm Thúy Nga mời cộng tác để xuất hiện lần đầu tiên trên chúuơng trình  Paris By Night 15 với nhạc phẩm “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa”.  Sau 15 chương trình Paris By Night, sự hợp tác giữa Anh Khoa và trung tâm Thúy Nga đã đi đến kết thúc.
Tuy không có được môi trường thuận tiện cho những sinh hoạt nghề nghiệp của mình là ca hát, nhưng bù lại Anh Khoa đã có được một cuộc sống thật êm đềm và hạnh phúc bên cạnh người vợ hiền thục và cô con gái ngoan tên Diana, năm nay 13 tuổi.

Anh Khoa tâm sự hiện nay anh chỉ dồn tất cả sinh hoạt của mình cho gia đình, trong khi chấp nhận tình trạng lắng đọng trong những sinh hoạt văn nghệ, ngoài những lần bay qua California hoạt động trong giới nghệ sĩ tại đây: “Sống bên đó cũng chỉ vì gia đình thôi.  Giữa 2 cái Khoa phải chọn một. Một bên là việc làm, một bên là gia đình.  Nhưng việc làm thì Khoa chạy qua chạy lại được, dễ dàng thôi.  Dầu sao mình cũng cần có  hậu phương là gia đình của mình chớ! Khoa qua Mỹ thấy cuiộc sống chưa chắc đã bằng Khoa bên Hung”.
 
Và cũng chính vậy, Anh Khoa cảm thấy thoải mái hơn bên cạnh vợ con, gần bên dòng sông Danube êm đềm ở Budapest.

Trong lần cùng vợ con sang California vào tháng 8 năm 2005 vừa qua, Anh Khoa đã hoàn tất CD mới nhất của mình là “Khúc Thụy Du” dưới nhãn hiệu Anh Khoa Production. Và trong nay mai, khán  thính giả khắp nơi sẽ có dịp gặp gỡ người nam ca sĩ có giọng hát  luôn phảng phất nét buồn này qua chương trình video “75 Năm Âm Nhạc Việt Nam” do trung tâm Asia phát hành...

(TVTS – 1020)

(in reply to anhthoa)
Post #: 144
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 11/2/2009 7:42:02 PM   
nhakhue2001

 

Posts: 115
Joined: 6/1/2006
From: Wesminster CA USA
Status: offline
Con gai cua Anh Khoa dep va de thuong qua.

(in reply to anhthoa)
Post #: 145
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 11/9/2009 11:39:56 PM   
anhchangdeghet

 

Posts: 374
Joined: 6/1/2006
Status: offline
dep giong giong Phi Nhung

(in reply to nhakhue2001)
Post #: 146
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 11/13/2009 4:42:32 PM   
anhthoa

 

Posts: 4396
Joined: 6/1/2006
Status: offline
LỮ LIÊN và lịch sử ban tam ca AVT




Nhạc sĩ Lữ Liên


Không cần phải giới thiệu dài dòng, chắc chắn mọi người đều biết AVT là tên của một ban tam ca trào phúng đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam với tính chất châm biếm và hài hước, nhiều khi xen lẫn với một sự mỉa mai của nó.
 
AVT đã trở thành một tên tuổi thật gần gũi với mọi người bằng những nhạc phẩm lột tả được hết mọi khía cạnh của cuộc sống hằng ngàytrong nhiều hoàn cảnh khác biệt của xã hội. Những lời ca dí dỏm trong những nhạc phẩm do AVT trình bầy đã mang lại niềm vui cho mọi người từ suốt gần 50 năm qua đã đóng góp khá nhiều vào kho tàng văn hóa dân gian cũng như đã trở thành một lọai văn chương truyền khẩu rất phổ thông.

Nhắc đến AVT, chắc chắn phải nhắc đến người được coi là linh hồn của ban tam ca này là nhạc sĩ  lão thành Lữ Liên, vào năm 2008 này đã được 91 tuổi. Ông  hiện cư ngụ tại Orange County trong một căn mobile home mà người viết đã  có dịp tiếp xúc gần đây.  Ngoài ra, trước đó thỉnh thoảng tôi vẫn có dịp gặp gỡ ông trong những dịp thu ông hình video cho trung tâm Asia cách đây khoảng 10 năm để nghe ông kể về nguồn gốc và sự hình thành của ban tam ca AVT. 

Không những thế cách đây 15 năm, ông đã tự tay soạn một bài viết về nội dung nói trên cho tôi làm tài liệu.  Căn cứ vào những dữ kiện có được cũng như  một số chi tiết góp nhặt được qua những lần gặp gỡ nhạc sĩ Lữ Liên, bài viết này mong sẽ cung cấp cho bạn đọc những điều xác thực về lịch sử ban tam ca AVT cùng với người được coi là linh hồn của nó là nhạc sĩ Lữ Liên. 

Thêm vào đó, bài viết này cũng còn được dựa trên tài liệu của một số nhân vật có thẩm quyền khác đối với sự hình thành của ban tam ca trào phúng độc đáo này. Trung tá Phạm Hậu tức nhà thơ Nhất Tuấn là một người trong số này. Ông nguyên là giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh VNCH vào năm 1971 và là Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xã vào năm 1974. Trước đó ông tùng là người một thời gian chỉ huy Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương tức tiền thân của của Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương là nơi xuất phát ra ban tam ca AVT và rất nhiều nghệ sĩ tên tuổi khác. 

Ông cũng từng giữ một chức vụ cao của Đài Phát Thanh Quân Đội là nơi nhạc sĩ Lữ Liên vào năm 1957 sau khi được đồng hóa vào quân đội đã phục vụ trong ban biên tập, để rồi sau đó được biệt phái sang tiểu đoàn 1 Chiến Tranh Chính Trị để bổ xung vào ngành kịch nghệ sân khấu trong việc yểm trợ cho các binh sĩ khắp 4 vùng chiến thuật trước khi trở thành trưởng ban AVT.

Trong thời gian là diễn viên kịch nghệ trong ban kịch của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, ông vẫn chú tâm nghiên cứu về cổ nhạc thuần túy của 3 miền đất nước để sáng tác thành những bài ca trào phúng để có thể  trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp tự đàn lấy để trình diễn. Đó là điều ông ước vọng từ lâu.

Năm 1958, trong danh sách công tác của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Chính Trị có một ban tam ca do 3 anh tân binh mới nhập ngũ tên Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên trình bầy những bản nhạc vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT để đặt tên ban. Người đứng ra thành lập ban AVT chính là nhạc sĩ Anh Linh mà không phải là nhạc sĩ Lữ Liên như không ít người lầm tưởng. 

Anh Linh là một người có căn bản nhạc lý vững vàng nên từng có thời gian được cử thay thế  giáo sư  âm nhạc Phạm Nghệ làm trưởng ban Ca của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, tức Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương sau đó. Ông đã sáng tác được khoảng 20 bài, trong đó có một số bài phổ ttừ thơ của thi sĩ Hà Thượng Nhân và Nhất Tuấn (tác giả thi tập nổi tiếng trong thập niên 60 “Chuyện Chúng Minh”).

Một trong những ca khúc đắc ý nhất của ông là “Niềm Tin”, thường được nhiều ca sĩ trình bầy trong dịp Giáng Sinh. Ca khúc đầu tay của Anh Linh là bài “Sao Em Không Đi”, viết trước khi nhạc sĩ Anh Bằng, cùng trong Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Tâm Lý, tung ra nhạc phẩm “Nếu Vắng Anh”. Nhưng vì nhạc của Anh Linh có phần ủy mị nên không được bộ thông tin chấp thuận ngay.

Trái lại, “Nếu Vắng Anh” thì trót lọt kiểm duyệt vì lời ca, điệu nhạc rất tình cảm nhưng không mềm yếu. Nhạc phẩm này đã trở thành Top Hit sau đó. Bù lại, Anh Linh được an ủi là có một số bài như Chiến Thắng Rừng Sát, Thiên Thần Mũ Đỏ, Chiến Thắng Kon Tum đã được rất nhiều anh em binh sĩ tán thưởng. 







Ban Tam Ca Trào Phúng AVT đầu thập niên 60
 

Việc hình thành tên ban tam ca AVT đã được nhạc sĩ Anh Linh kể lại với những chi tiết lý thú đến từ một sự tình cờ.  Khởi thủy, ban tam ca sau này được gọi là AVT gồm có  3 người là Anh Linh, Tuấn Đăng và Vân Sơn thường được giới thiệu mỗi khi xuất hiện trên sân khấu là  Tam Ca Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng. 3 người đều hát thường trực ở phòng trà Anh Vũ với những tiết mục vui nhộn của họ. 

Một hôm, ban giám đốc thuê người kẻ một tấm biểu ngữ rất lớn để giăng ngang đường Trần Hưng Đạo, gần phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện nhằm giới thiệu bộ 3 này mà họ muốn gọi là ban Kích Động Nhạc Anh Vũ. Đúng vào lúc những người kẻ chữ vừa viết xong hai chữ AV mầu đỏ và chữ NH mầu xanh thì Anh Linh tình cờ đi tới.

Anh hỏi thì được  biết họ viết chữ ANH VŨ. Anh Linh nói ngay là ban tam ca của anh không phải tên là Anh Vũ như ban giám đốc đã thuê họ viết. Nhưng thấy mấy người thợ đã lỡ viết như vậy nên chợt nhớ ra ban kích động nhạc của mình đã có sẵn tên Anh Linh, Vân Sơn nên bảo viết thêm chữ T ( chữ đầu của tên Tuấn Đăng ) và bỏ 2 chữ  NH kia đi. Vì thế nên có tên AVT.

Trong thời gian AVT hát nhạc ngọai quốc ở phòng trà Anh Vũ, họ luôn được khán giả yếu cầu hát nhiều lần nên chủ phòng trà thêm cho AVT một danh hiệu nữa là ban AVT Đăng-Linh-Sơn khi được giới thiệu. Nhưng MC lại cố ý đọc là “AVT Darlingson” cho  khán giả ngọai quốc dễ hiểu!  

Tiền thù lao cho AVT sau đó đã phá kỷ lục khi họ được trả đến 1000 đồng một người, trong khi “cát sê” trả cho quái kiệt Trần Văn Trạch chỉ có 700! Vì AVT có lần được khán giả yêu cầu “bis” đến 7 lần. Ba người vừa vào hậu trường thay áo đi về thì lại phải mặc vào để ra trình diễn thêm trong khi khán giả giả tiếp tục hò hét vang rền! Đó thật là một kỷ niệm nhớ đời cho Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng.

Giọng ca của 3 thành viên AVT này rất đều. Họ có thể lên cao tới “nốt” Sol cao và xuống đến Sol thấp. Theo nhận xét của nhạc sĩ Lữ  Liên thì giọng của Vân Sơn trội hơn cả so với 2 người khác trong ban. Hình ảnh đặc biệt của AVT là lúc trình diễn họ đều mặc quốc phục với khăn đóng, áo dài và tự đàn lấy để hát.

Trước khi chuyển qua sử dụng những nhạc khí dân tộc thì Anh Linh chơi guitar, Vân Sơn chơi trống và Tuấn Đăng sử dụng contre-bass. Những tiết mục linh động và tươi vui của AVT thật sự đã mang lại cho sinh hoạt phòng trà thời đó thêm rất nhiều sống động.

Qua đầu thập niên 60, vào lúc AVT cần những sáng tác mới để trình bầy, nhạc sĩ Lữ Liên có ý định thử nghiệm khi muốn hướng phần trình diễn của AVT về một thể loại mới lạ. Ông đã trích một đọan trong bản Thất Nghiệp Ca của ông (sáng tác cho Đòan Văn Nghệ Vịet Nam) đặt tên là Tam Nghiệp, mô tả 3 chàng Thợ Nhuộm, Thợ Sửa Khóa và Thầy Bói  để AVT thực nghiệm vào dịp Tất Niên trong một chương trình văn nghệ do quân đội tổ chức tại rạp Tống Nhất.  Chương trình này có mục đích ủy lạo các chiến sĩ xuất sắc khắp 4 vùng chiến thuật trở về tham dự, dưới sự chủ tọa của tổng thống Ngô Đình Diệm cùng nhiều tướng lãnh cao cấp khác.

Nhưng sắp đến ngày ra mắt thì thình lình có giấy gọi Anh Linh theo học khóa sĩ quan vào năm 1962.  Lập tức Hoàng Hải được đưa vào tập dượt để thay thế.  Sau này khi Lữ Liên gia nhập AVT, nhạc phẩm Tam Nghiệp có được sửa đổi đôi chút với những nghề Thợ  Sửa Xe Máy (do Lữ Liên diễn tả), nghề Tẩm Quất với Vân Sơn  và Tuấn Đăng với nghề thợ mộc.

Với bài Tam Nghiệp gốc, một sáng tác của Lữ Liên, trích từ tác phẩm Thất Nghiệp Ca của ông,  lần đầu tiên khán giả được thưởng thức một nhạc phẩm trào phúng với những âm điệu cổ truyền cùng những  lời ca dí dỏm và nghệ thuật trình diễn sống động. Tất cả những khán giả hôm đó, phần lớn là anh em binh sĩ, được dịp cười hả hê. Nhất là lúc Vân Sơn hứng lên múa trống, tung dùi và Tuấn Đăng nhảy lên cây “Contre-basse” để solo theo nhịp kích động khiến khán giả cổ võ muốn sập rạp.

Và kể từ đó AVT bắt đầu bước vào một khúc quanh quan trọng với phần trình bầy những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội. Với sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả.  Sau thời gian này, Lữ Liên lại đặt cho AVT một số bài mới như  Ông Nội Trợ, Trắng Đen, Dậy Thì, vv... Tất cả những nhạc phẩm này đã khiến tên tuổi AVT càng này càng lên cao
Ngoài những sáng tác của nhạc sĩ Lữ Liên, nhạc sĩ Anh Bằng cũng sáng tác cho ban tam ca này một nhạc phẩm nổi tiếng khác có tựa đề là Huynh Đệ Chi Binh, thêm vào đó là một sáng tác của  Duy Nhượng là  bài Ai Lên Xe Bus...

Từ đó, ban AVT đã trở thành một tam ca nhạc đắt giátại các phòng trà ca nhạc và vũ trường cũng như các Đại Nhạc Hôi cùng các đài Phát thanh và Truyền Hình. Nói cho đúng, AVT đã trở thành một hiện tượng trong sinh họat ca nhạc tại Việt Nam với một khuynh hướng thể hiện chưa từng có trước đó. Như vậy có thể khẳng định là AVT đã giữ vai trò độc tôn bằng hình thức tam ca trào phúng. Một thời gian sau, một vài kết hợp dưới hình thức tương tự cũng được ra đời, nhưng không có khả năng thu hút người nghe như AVT, nên đã không tồn tại được bao lâu.

Sau những bài hát trào phúng được nhắc tới ở trên là đến một lọat những bài khác được nhạc sĩ Lữ Liên sáng tác cho ban AVT trình bầy như  Ba Bà Mẹ Chồng, Cờ Người, Em Tập Vespa, vv... Đó là những nhạc phẩm đã lót đường cho ban AVT thăng tiến rất nhanh.  Ngoài những lời lẽ châm biếm trong những bài hát trước đó, người nghe còn cảm thấy rất thích tú với những bài hát được Lữ Liên sáng tác với hình thức lời thanh mà ý tục, tương tự những thi phẩm nữ sĩ Hồ Xuân Hương, trong đó có tác phẩm Cờ Người  đã được phổ nhạc hoàn toàn mang chất AVT độc đáo...

Trong khoảng thời gian từ  60 đến 64, AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc và băng nhạc. Và AVT còn nhận  lời trình diễn cho các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn ở Sài Gòn như Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai, vv...








Từ trái qua phải:  nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, Trường Kỳ, nhạc sĩ Lữ Liên và nghệ sĩ Thúy Liệu tại căn “mobile home” của Lữ Liên  ở thành phố Westminster, nam California năm 2007 


Vào  năm 1965, nhạc sĩ Hoàng Hải được lệnh giải ngũ. Hoàng Hải với tên thật là Lưu Duyên, là anh của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, sau đó sang làm cho đài VOF tức Tiếng Nói tự Do. Nhạc sĩ Lữ Liên được mời vào thay thế và trở thành trưởng ban AVT từ đó. Cùng một lúc ông còn là trưởng ban kịch của Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương. Với các nghệ sĩ : Hoàng Năm, Đỗ Lệnh Trường, Xuân Phúc, Bích Huyền, Cẩm Thúy, Thúy Liệu, Lệ Sửu, v.v...

Sau khi nhận lời trở thành một thành viên của AVT, lúc đó măc dù trong ban không còn ai mang tên có chữ có A ở đầu, nhưng Lữ Liên vẫn giữ nguyên cái tên AVT.  Vì ông cho rằng tên đó đã đi sâu vào tâm hồn quần chúng.  Nhưng ông đã đưa ra một vài đề nghị với một số thay đổi.  Thứ nhất, với vai trò trưởng ban ông đổi danh xưng chính thức cho AVT  là “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT”, thay vì Ban Kích Động Nhạc AVT.

Ngoài ra, còn  có thêm một sự thay đổi quan trọng khác là lọai bỏ 3 nhạc khí Tây Phương để chỉ sử dụng những nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Từ đó Vân Sơn chơi Tỳ Bà, Tuấn Đăng chơi đàn đoản và Lữ Liên sử dụng đàn nhị tức đàn cò.

Tới khoảng thời gian 1966-67, chính phủ Việt Nam theo đuổi chương trình trao đổi văn hóa với các nước Á Châu,  AVT với thành phần trên đã theo Đoàn Văn Nghệ Việt Nam của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ di trình diễn tại rất nhiều quốc gia như Lào, Cao Miên, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nhật Bản, vv...

Sang đến năm 1968 thì “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT” đi vào một thời kỳ có thể gọi là cực thịnh với những chuyến lưu diễn tại rất nhiều quốc gia Âu Châu.

Theo lời yêu cầu của các đồng bào Việt Nam tại Pháp,  chính phủ Việt Nam đã gửi một phái đoàn văn nghệ hùng hậu gồm đầy đủ các bộ môn thi, ca, vũ, nhạc, kịch, vv... dưới sự dìu ắt của nhạc sĩ Hoàng thi Thơ cùng các vũ sư Lưu Hồng và Trịnh Toàn sang Âu Châu trình diễn lần thứ nhất.

Lần ra mắt ở rạp Maubert Mutualité Paris, Lữ Liên đã sáng tác một số bài dành riêng cho AVT như Chúc Xuân, Vòng Quanh Chợ Tết, Tiên Sài Gòn, Gái Trai Thời Đại,  Lịch Sử Mái Tóc Huyền, Mảnh Bằng, 3 Ông Bố Vợ, vv... để trình diễn trước một số khán giả kỷ lục.  Còn một số đông khán giả phải đứng ở ngoài vì hết chỗ.  

Trong lần ra mắt đáng ghi nhớ đó, AVT mặc sức vẫy vùng. Mỗi câu hát là một chuỗi cười và tiếng vỗ tay  vang dội. Giữa mỗi bài hát đều có phần solo nhạc. Tiếng nhạc khí Việt Nam thánh thót, véo von như chim hót khiến khán giả im lặng cơ hồ như nín thở để thưởng thức. Đến phần kết thúc mỗi bài hát thì tiêng vỗ tay vang lên như sấm động. Nhất là  trong tiết mục AVT trình tấu cũng bằng Tỳ Bà, Nhị Huyền và Đàn Đỏan hai nhạc khúc bất tử của Johan Strauss là Le Beau Danube Bleu và Les Flots Du Danube. Khán gỉa đã vỗ tay không ngừng khi chấm dứt.

AVT phải dắt tay nhau ra cám ơn khán giả 3 lần!  Vãn hát, khán giả  đã tràn lên sân khấu vây quanh các nhạc sĩ để khen ngợi. Nhất là các khán giả người địa phương muốn xem tận mắt từng cây đàn của AVT đã sử dụng.

Lần trình diễn đó của AVT đã gây chân động cả Paris. Đi đến đâu người ta cũng nhắc tới AVT. Đó có thể coi như thời kỳ huy hoàng nhất của ban ta ca trào phúng này. Sau đêm trình diễn ở rạp Maubert và sau khi nghỉ một ngày, bộ ba Lữ Liên, Vân Sơn và Tuấn Đăng sang diễn một xuất ở Thụy Sĩ và  một xuất ở Luân Đôn. Sau đó họ lại về Pháp để trình diễn một xuất ở dưới miền nam.

Rồi sau đó, phái đoàn lại tiếp tục đi trình diễn tại Maroc, Algérie, Tunisie, vv... Nơi nào họ cũng gặt  hái được những thành công rực rỡ trước khi trở về Việt Nam. Đó là chưa kể AVT còn có dịp sang trình diễn  tận nước Cộng Hòa Trung Phi  trong thời kỳ lãnh đại của tổng thống Bokassa.








Lữ Liên và người vợ quá cố trong lễ thành hôn của Tuấn Ngọc, con trai của ông bà


Qua năm 1969, lại một lần nữa thể theo lời mời của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam lại cử một đoàn văn nghệ gồm AVT với Lữ Liên, Vân Sơn, Tuấn Đăng cùng 2 nữ ca sĩ Hoàng Oanh và Hà Thanh, vợ chồng nhạc sĩ cổ nhạc Vĩnh Phan, nhạc sĩ Huỳnh Anh và cây sáo Nguyễn Đình Nghĩa sang quốc gia này.  Một chương trình dài 2 tiếng gồm đủ mọi tiết mục được dàn dựng để trình diễn ở tất cả những địa điểm mà anh chị em sinh viên ở Parius tổ chức trong những ngày cuối năm. Chuyến lưu diễn này kéo dài 1 tháng với một thành công rực rỡ.

Ngoài những lần trình diễn chung với 2 nhạc sĩ khác trong AVT, hình ảnh nhạc sĩ Lữ Liên còn ghi đậm nét trong trí nhớ mọi người khi ông cùng nhạc sĩ Hoàng Thi Thao đồng diễn tiết mục “Cò Tây-Cò Ta”, được coi là một tiết mục rất ăn khách vào thời đó, cũng như sau này tại hải ngọai. “Cò Tây-Cò Ta” cũng đã được thu hình trong một chương trình Paris By Night cách đây vài năm, gây được nbhiều thích thú cho khán thính giả.

Rồi đến tháng 4 năm 75, Lữ Liên nhờ  làm cho đài Mẹ Việt Nam nên được đi tàu ra Phú Quốc để rồi được đưa sang đảo Guam trước khi đến Mỹ. Trong khi đó Vân Sơn và Tuấn Đăng bị kẹt lại. Riêng Vân Sơn, một thời gian ngắn sau biến cố tháng 4  năm 75, đã nhảy xuống sông Thị Nghe tự tử. Qua một bài  viết của Băng Đình thì Vân Sơn đã nhảy cầu Thị Nghè tự tử để phản đối sự áp bức của chính quyền mới đối với giới văn nghệ sĩ.

Trong khi về phía chính quyền thì cho là Vân Sơn làm rối loạn trật tự tại chợ Thị Nghè, bị công an khu vực rượt nên sợ quá phải nhảy vội xuống sông Thị Nghè. Vân Sơn, chết vì đầu đập vào một cây gỗ.  Có người hỏi nữ nghệ sĩ Hồng Vân là người đứng ra quyên tiền để chôn cất cho Vân Sơn, về nguyên nhân cái chết của anh. Nhưng Hồng Vân cũng trả lời không biết rõ nguyên nhân.

Về phần nhạc sĩ Lữ Liên, theo một nguồn tin khác cho biết lý do khiến Vân sơn tìm đến cái chết đã đến từ chuyện gia đình...

Một thành viên từ những ngày đầu của ban AVT là Tuấn Đăng hiện nay vẫn hoạt động ở Sài Gòn. Hàng đêm anh hát và đàn tại một quán có tên là Tiếng Dương Cầm trong khu cư xá sĩ quan Chí Hòa.

Còn Anh Linh, người sáng  lập ra AVT, từ khi qua Mỹ theo diện HO đến nay, là ca đoàn trưởng của một giáo xứ ở San Jose.  Vợ chồng anh còn là chủ của một tiệm phở đông khách ở thành phố này.

Sau một thời gian vất vả ở các trại tỵ nạn, các anh chị em nghệ sĩ ở khắp nơi đổ dồn về tiểu bang California lập nghiệp. Nhờ sự yểm trợ của cơ quan USCC, một số anh nghệ sĩ có tên tuổi như Hoàng Thi Thơ, Nam Lộc, Jo Marcel, Lê Quỳnh, Kiều Chinh, Lữ Liên, Vũ Huyến, Ngọc Bích vv... đã được nhận vào làm việc tại cơ quan này.

Một thời gian ngắn sau khi sang đến Mỹ, ban Tam Ca Trào Phúng AVT Hải Ngọai đã được thành lập do ý kiến của nhạc sĩ Lữ Liên.  Và sau một thời gian tập luyện một ban văn nghệ hùng hậu đã được thành lập để cùng kéo nhau sang Paris trình diễn, trong số dĩ nhiên không thể nào thiếu AVT Hải Ngoại với Ngọc Bích, Vũ Huyến và Lữ Liên.

Toàn thể khán giả đã tỏ ra rất thích thú khi được nghe lại những nhâc phẩm trào phúng quen thuộc ngày nào. Yếu tố đó đã khiến cho AVT gặt hái được những thành quả to lớn. Nhưng sau đó, với thời gian, thành phần AVT Hải Ngọai có một vài thay đổi và một số hoạt động cũng như một số sáng tác mới được ghi nhận như sau:

14.2.77: Một lần nữa AVT có sự thay đổi trong thành phần khi Trường Duy vào thay thế cho Ngọc Bích. Cùng với đoàn văn nghệ trên, bộ ba sang Âu Châu trình diễn trong vòng 19 ngày.

01.12.77 : Sẵn có đoàn nghệ sĩ cơ hữu này, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã mang cả đoàn sang cộng hòa Trung Phi trình diễn nhân ngày Hoàng Đế  Bokassa Đệ Nhất đăng quang.

Năm 1987: Nhạc sĩ Anh Bằng đã thực hiện  1 cuốn băng AVT Hải Ngoại đầu tiên do trung tâm Asia phát hành. Trong băng này có một nhạc phẩm mới mang tựa đề Gốc Mít do Lữ Liên và Anh Bằng sáng tác, nói về cuộc đời của những người dân Việt tỵ nạn, lang thang trên khắp thế giới để tìm miếng cơm manh áo. Gặp nhau cũng không biết là người đồng hương,với những cảnh ngộ trớ trêu, cười ra nước mắt.

AVT với tiếng hát Lữ Liên, Vũ Huyến và Trường Duy và bài mới thứ 2 của nhạc sĩ Anh Bằng mang tựa đề Canh Cua Rốc, mô tả những chàng tai tỵ nạn xa quê hương thèm món canh cua từng đêm như thèm khát những vóc dáng xinh xinh.

Năm 1988: thành phần AVT được tăng cường thêm nữ nghệ sĩ Thúy Liệu đã sang Úc trình diễn tại Sydney trong một chương trình kịch vui kéo dài trong 10 ngày.

Năm 1992: AVT có một sự thay đổi với Hoàng Long vào thay thế cho nhạc sĩ Vũ huyến, đã cùng nhau thực hiện một băng cassette, thu thanh tại phòng thu Tùng Giang và do trung tâm Khánh Hà phát hành. Trong băng này có một sáng tác mới của Lữ Liên là Trận Cầu Quốc Tế, mô tả cuộc trực tiếp truyền thanh của AVT trong 1 trận cầu giao hữu nhưng không kém phần quyết liệt của 2 đội banh, một nam, một nữ từ Âu Mỹ đến Việt Nam. Khán giả Sài Gòn được xem nhiều pha gay cấn đầy nghệ thuật tân kỳ. Tuy chỉ là giả tưởng, nhưng với những “sound effects”, người nghe có cảm tưởng như đang tham dự một trận cầu thật.

Năm 1994, vào dịp Xuân Giáp Tuất trung tâm Giáng Ngọc tung ra cuốn video đầu tiên của AVT tại hải ngọai. Dựa theo một áng thơ tuyệt tác của nữ sĩ Hồ Xuân hương, nhạc sĩ Lữ Liên lần đầu tiên trình diễn chung với 2 nữ nghệ sĩ Thúy Lan và Thúy Hương để trình bầy nhạc phẩm Đánh Đu, với phần nhạc do Lữ Liên tự đảm trách, nhạc sĩ Ngọc Bích hòa âm và sử dụng Keyboard.

Ở trên là những chi tiết người viết thu thập được phần lớn từ người được coi như linh hồn của ban Tam Ca Trào Phúng AVT là Lữ Liên trong thời kỳ ông còn minh mẫn.  Trong lần đến thăm ông gần đây, sức khỏe của ông có phần sa sút hơn xưa. Nhất là sau khi bị té nặng vào năm ngoái, 2007. 

Sau lần đó, trí nhớ của nhạc sĩ Lữ Liên tỏ ra kém hẳn trước với một giọng nói không còn được linh họat, nếu không muốn nói là thiếu sự liên tục. Thật ra tình trạng này đối với số tuổi 91 của ông cũng là bình thường.  Mặc dù vậy, nhạc sĩ Lữ Liên vẫn còn cung cấp được cho tôi một số chi tiết liên quan đến tiểu sử của ông…

Ông mang họ Lã, sinh trưởng ở Hải Phòng  trong một gia đình mà thân phụ ông cũng là một nghệ sĩ, ngoài việc làm chính ở sở Bưu Điện.  Khi Lữ Liên còn nhỏ, thân phụ ông đã đứng ra lập một gánh hát cổ nên ông đã có dịp gần gũi với những âm thanh nhạc cổ truyền.  Ông trưởng thành trong khung cảnh văn nghệ đó nên đã chịu nhiều ảnh hưởng để sau đó trở thành một nghệ sĩ tài ba mà sự đóng góp của ông được coi như rất lớn lao cho nền âm nhạc Việt Nam…

( trích từ www.tivituansan.com.au )

(in reply to anhchangdeghet)
Post #: 147
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 11/15/2009 6:31:38 PM   
nguoiyeunhac

 

Posts: 187
Joined: 6/1/2006
Status: offline
Cam on Anhthoa da tim nhung bai viet hay de dang vo day.

(in reply to anhthoa)
Post #: 148
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 11/28/2009 1:43:32 PM   
anhthoa

 

Posts: 4396
Joined: 6/1/2006
Status: offline
Chút chuyện vui ngoài lề về ca sĩ, mời các bạn đọc cho vui.
 
 

 
ca sĩ Phương Hồng Ngọc gặp " xí muội " một vài lần lúc cô mới gia nhập ban Việt Nhi. Lúc đó cô chỉ là cô bé 9 tuổi tên Cẩm Hồng. Cái miệng cô tía lia tía lịa, nói nhiều lắm con nít mà, nói chuyện tùm lum tà la, trên trời dưới đất. Xí Muội hơn cô vài tuổi cũng là con nít, nên cứ yên lặng ngồi nhìn chăm chăm vào miệng cô có hai cái răng cửa bị mẻ một miếng ở chính giữa mà nghe cô nói chuyện. Lúc đó  Xí Muội chỉ thấy sao cô lanh quá trời. Sau đó Xí Muội nghỉ cho nên chẳng có nhớ kỷ niệm gì đáng nhớ với cô cả.
Xí Muội xin kể một chuyện vui nho nhỏ về cô qua một người bạn tên Ngọc Nga ( cũng cùng học chung một lớp nhạc của Nguyễn Đức ngày xưa ) Ngọc Nga kể rằng Phương Hồng Ngọc có một ông anh tên Hùng làm trong hãng xe bus chạy tuyến đường Chợ Lớn - Gia Định. Lớp nhạc của anh Hai Nguyễn Đức thì ở đường Vĩnh Viễn, Chợ Lớn. Nhà của Phương Hồng Ngọc, ca sĩ Phương Hồng Hạnh, ca sĩ Kim Loan và Ngọc Nga thì ở vùng Phú Nhuận, Gia Định, Chi Lăng Bà Chiểu chung một tuyến đường xe bus. Phương Hồng Ngọc rủ cả đám đi xe Bus " Chùa ". Con nít mà, được đi xe Bus mà không trả tiền thì khoái lắm! Mỗi lần nhân viên bán vé đòi thâu tiền thì cô nhanh nhẩu:
    - " Tụi tui " đi quá giang ( tụi tui là cô, Hồng Hạnh, Kim Loan và Ngọc Nga ), anh Hùng tôi làm ở hãng xe Bus nầy nè! Anh ruột của tôi đó! Anh Hai tôi đó, ảnh tên là Hùng làm ở đây nè!
    Người soát vé không biết " có biết " anh Hùng là ai không mà chẳng nói năng gì và cũng bỏ qua không thâu tiền cả bọn. Trót lọt được một vài lần thì bị tổ trác, lần đó xui xẻo gặp phải người soát vé khó tính, hắn không cần biết " Anh Hùng " là ai hết, hắn quạo quọ:
     - Trả tiền đây! Đi xe là phải trả tiền!
Phương Hồng Ngọc cố vớt vác:
     - Anh Hùng tôi làm ở xe Bus nầy...
Hắn gạt ngang:
     - Hỏng có anh Hùng anh Hào gì hết! Đi xe là phải trả tiền. Hỏng trả tiền thì xuống xe.
Phương Hồng Hạnh với Kim Loan lúc đó khá lớn rồi nên mắc cở nói với Phương Hồng Ngọc để trả tiền, nhưng Phương Hồng Ngọc không chịu, nhất định cứ đưa " anh Hùng " ra đỡ đạn. Người xoát vé thì vẩn một mực ra lịnh:
      - Xuống xe!
Thế là cả bọn phải xuống xe. Phương Hồng Ngọc tức quá! Cô vừa xuống xe vừa đưa ngón tay chỉ chỉ vừa " hăm dọa ":
      - Xuống thì xuống chớ! Làm gì dử vậy! Nhớ nhe! Tôi Dzìa tôi mét " anh Hùng ' tôi cho mà coi.
Đúng là con nít thiệt tưởng mét " anh Hùng " là ông soát vé sợ chắc? Chóng quá!
Thế mà thoắt mà một cái cô lớn như thổi và trở thành ca sĩ nổi tiếng hồi nào không hay. Và bây giờ đã trở thành bà nội trẻ của hai cháu nội, ( con của người con trai lớn của cô ). Không biết bây giờ Phương Hồng Ngọc có còn " thơ ngây " và còn thích đi xe bus " chùa " như vậy nửa không? Nếu còn nhớ rủ Xí Muội đi với nhé! Xí Muội cũng muốn thử xem cái cảm giác đi xe Bus " chùa " nó hồi hộp và " khoái " cỡ nào? Thôi Xí Muội buồn ngủ quá rồi, tạm biệt nhé! Rất mong có lần họp mặt thứ nhì để bạn bè gặp lại nhau lần nửa thì vui biết mấy!!!
 
Tôn Nữ Mặc Giao

Bài nầy của một người bạn ở Đức gởi tặng để fans đọc cho vui.   

(in reply to nguoiyeunhac)
Post #: 149
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 12/8/2009 11:21:23 AM   
duykhiem35

 

Posts: 564
Joined: 6/1/2006
Status: offline
Chuyen rat vui, Anhthoa chuyen nao vui ben le nhu vay goi vo them nha, boi vi lau qua khong ghe vo vi ban cong viec gia dinh, vi gia dinh moi don qua tieu bang Florida.

(in reply to anhthoa)
Post #: 150
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 12/9/2009 11:14:11 AM   
anhchangdeghet

 

Posts: 374
Joined: 6/1/2006
Status: offline
Minh cung thich bai viet nay.

(in reply to duykhiem35)
Post #: 151
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 12/10/2009 6:43:10 PM   
nhakhue2001

 

Posts: 115
Joined: 6/1/2006
From: Wesminster CA USA
Status: offline
Vui qua Anhthoa.

(in reply to anhchangdeghet)
Post #: 152
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 12/16/2009 9:14:05 PM   
anhthoa

 

Posts: 4396
Joined: 6/1/2006
Status: offline
Ca Sĩ Trang Mỹ Dung

Trước 1975 ca sĩ Trang Mỹ Dung không xa lạ với khán thính giả miền Nam. Tiếng hát của chị được phát sóng trên đài phát thanh vào cuối năm 1967, và đến giữa năm 1968 chị bắt đầu đi hát ở các phòng trà, đại nhạc hội ở Sài Gòn, lưu diễn các tỉnh...
Sau 1975, nhiều ca sĩ đã ra nước ngoài, riêng chị vẫn ở lại và tiếp tục con đường ca hát. Đã từ lâu không thấy chị xuất hiện ở các tụ điểm ca nhạc, sân khấu, truyền hình... Thỉnh thoảng, thấy chị hát trong các chương trình Phật giáo, từ thiện.
- Nhắc đến nhạc phẩm "Hai mùa mưa" của nhạc sĩ Anh Bằng, người nghe nhớ Trang Mỹ Dung. Có phải bài hát này đã làm nên tên tuổi chị ?
- Đây là bài hát đầu tiên tôi thu vào đĩa của Hãng Sóng Nhạc và được thính giả ưu ái đón nhận. Lúc ấy, có nhiều người nói rằng, tiếng còi tàu buồn man mác ở đoạn kết bài hát do cố nhạc sĩ Y Vân phối âm.
- Có đến bốn người đẹp mang họ Trang: Trang Thanh Lan, Trang Kim Yến, Trang Kim Phụng, và Trang Mỹ Dung. Đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay có sự xếp đặt ?
- Khi tôi đi hát được một thời gian ngắn thì nghệ sĩ Tùng Lâm mời tham gia vào Ban Tạp Lục phát sóng hằng tuần trên Đài phát thanh. Tôi thấy các học trò của chú có Trang Thanh Lan, Trang Kim Yến, rồi sau này thêm Trang Kim Phụng và cũng đặt luôn nghệ danh cho mình là Trang Mỹ Dung, còn tôi họ Trương.

 


::: Lê Minh Bằng :::

Hai Mùa Mưa

Mùa mưa lần trước anh về đây ghé thăm tôi
Tình xưa bạn cũ gặp nhau đêm ấy mưa rơi.
Tách cà-phê ấm môi,
Mình ngồi ôn lại những phút vui trôi qua mất rồi
Này cây phượng vĩ bên đường che nắng ban trưa
Này con đường dẫn vào sân ga tắm trăng mơ.
Mái trường ngày ấu thơ,
Và nay căn nhà vắng nằm cạnh nhau nghe đêm mưa.

Hai đứa vui,
Chưa vơi tâm sự hôm sau anh lên đường
Tôi tiễn anh...
Như bao anh hùng hiên ngang ra sa trường
Vì yêu quê hương anh lặng lẽ bước chân đi
Vì thường non sông tôi gạt nước mắt phân ly
Từng cơn mưa vẫn rơi não nề
Anh nói một năm nữa anh về...

Mùa mưa lại đến tôi mừng vui đón tin anh
Đèn khuya một bóng nhìn mưa rơi suốt năm canh
Nghĩ rằng tôi vắng anh...
Vì nghiệp trai còn đi giữ quê hương cho chúng mình...
Nhiều khi chờ sáng nghe lòng thao thức canh thâu
Đường ga nhỏ bé nằm đợi mong đã bao lâu
Tiếng coi đêm lướt mau
Đoàn tàu đi về mãi mà bạn thân tôi nơi đâu?



 

 

 

 

 

 

 



    

(in reply to nhakhue2001)
Post #: 153
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 12/17/2009 4:31:13 PM   
anhthoa

 

Posts: 4396
Joined: 6/1/2006
Status: offline
Tiểu Sử Nhạc-sĩ Xuân-Lôi


Nhạc-sĩ Xuân-Lôi sinh ngày 17 tháng 10, 1917 tại Hà-Nội. Thân-phụ ông là cụ Phạm-xuân-Trang, cũng là nhạc-sĩ, từng theo học nhạc cổ Trung-quốc với các ban-nhạc Tàu và cũng có lập ban-nhạc đi trình-diễn. Trong nhà có tấ cả là 6 anh em : Xuân-Thư, Xuân-Oai, Xuân-Lôi, Xuân-Tiên, Xuân-Khuê và Xuân-Tuấn. Khi còn nhỏ, Xuân-Lôi đã nắm vững kỹ-thuật nhạc-khí Tàu và thông-thuộc bài bản Tàu.
 
Buổi trình-diễn đàu-tiên trước công-chúng của nhạc-sĩ Xuân-Lôi tại Khai-Trí Tiến-Đức rất thánh-công. Năm 10 tuổi ông học nhạc-lý, học nhạc-khí tây-phương như: Măng-cầm ( Mandoline ), kèn saxo baryton, rồi kèn saxo alto, hắc tiêu ( Clarinette ).

Năm 1936, ông theo cha sang Cao-Miên, trình-diễn và lợi dụng cơ-hội này ghi chép 30 bài ca Cao-Miên và học cách đàn nhạc khí Cao-Miên của dàn nhạc Pinpeat ( khong vong, roneat, tro, pey or v.v.....).

Năm 1940, người cha của ông định-cư tại Bao-Vinh ( miền Trung ) nên ông co dịp làm quen với nhạc Huế. Sau đó ông cùng người em là nhạc-sĩ Xuân-Tiên ra Hà-Nội cộng-tác với các vũ-trường để sinh sống.



Năm 1942, ông và người em, nhạc-sĩ Xuân-Tiên, đi theo đoàn cải-lương Tố-Như vô Sài-gòn nhân-dịp hội chợ trình-diễn và lưu-diễn khắp lục-tỉnh miền Nam. Nhờ vậy nhạc-sĩ Xuân-Lôi học hỏi thêm nhạc cải-lương và các điệu hồ-quảng.

Năm 1943, đoàn cải-lương Tố-Như trở ra Bắc. Ông rời gánh và năm 1944, hai anh em ông đàn cho các vũ-trường Lucky-Star, Moulin Rouge tại ngã tư Sở, rồi tại vũ-trường Victory, hotel Spendide, Taverne Royale ở Hà-Nội. Trong thời-gian này, ông học thêm vĩ-cầm ( Violon ), hâ-ut-cầm ( Guitare Hawaienne ), trống, đàn banjo alto v.v....

Trong thời-gian tản-cư ( khoảng 1946 ), Xuân-Lôi và Xuân-Tiên lập ban-nhạc Lôi-Tiên đi diễn lưu-động và đàn cho gánh cải-lương Bích-Hợp.

Từ năm 1949 tới 1950, hai anh em lên tận vùng Thái-Nguyên nhập vào ban văn-hoá-vụ với trưởng ban là Hoài-Thanh. Ông có dịp gặp-gỡ các văn-nghệ-sĩ nổ tiếng như: Phan-Khôi, Tố-Hữu, Thế-Lữ, Văn-Cao, Canh-Thân, Lê-Hoàng-Long, Quốc-Vũ, Nguyễn-Tuân.

Trong thời gian ở Thái-Nguyên, ông đã ký-âm mấy chục ca-khúc dân-tộc Chèo thiểu-số. Ông đã cùng Xuân-Tiên nghiên-cứu cách làm ống sáo 10 lỗ và 13 lỗ, có đủ các bán cung để có thể thổi các bản nhạc Tây-phương. Ông chế các ống sáo từ do, re, mi, fa, sol, la, si. Ông còn chế-biến với ống nứa để làm nhạc-khí khác như bộ trống nứa .

Năm 1951 hai anh em đi Nam-Định làm việc ở dancing Văn-Hoa. Ít lâu sau với một thành-phần 12 nhạs-sĩ, ông cùng họ làm việc tại nhà-hàng Le Coq d'Or.

Năm 1953, ông vào Sài-gòn làm việc tại vũ-trường Kim-Sơn, Bồng-Lai, Lê-LAi, Mỹ-Phụng, Văn-Cảnh. Rồi làm đài phàt-thanh Pháp-Á, đài Sài-gòn, đài Tiếng noi Tự-Do, đài tiếng nói Quân-Đội, lập ban nhạc lấy tên Hương-Xa, chuyên đàn nhạc jazz lời Việt.

Năm 1958, nhạc-sĩ Xuân-Lôi đoạt giải nhất với bản Tiếng hát quê-hương do ông bộ trưởng Trần-chánh-Thành trao tặng. Năm 1961, ông lại đoạt giải nhất qua bài Bài hát của người Tự-Do trong cuộc thi sáng-tác của đài Tiếng nói Quân-Đội.

Khi có đài truyền-hình, ông có cộng-tác, chánh với ban Tiếng Tơ-Đồng và ban Tuổ-Xanh. Cho đến trước khi mất Sài-gòn, ông điều-khiển ban nhạc tại nhà-hàng Maxim's do Hoàng-thi-Thơ tổ-chức văn-nghệ theo kiểu quốc-tế.

Trong thời gian sau thang 4 năm 1975 sống với cộng-sản, nhạc-sĩ Xuân-Lôi có sáng-chế ra một cây đàn làm bằng lon sắt co 39 lon tức 39 nốt nhạc. Đàn được đặt tên là Xuanloiphone và thực-hiện xong ngày 20 tháng 7, 1976.

Nhạc sĩ Thanh-Tùng chụp hình làm tài-liệu và nhạc-sĩ Nguyễn-xuân-Khoát viết bài trên báo Tin-Sáng ngày 17 tháng 10,1979 về nhạc-khí này. Ông có sáng-chế một nhạc-cụ khác bằng nứa 29 nốt gọi là Mélobasse. Đàn Mélobasse chưa thực hiện xong vì thiếu phương-tiện.

Ngày 2 tháng 11, 1987, nhạc-sĩ Xuân-Lôi cùng gia-đình sang định-cư tại Pháp.

Nhạc sĩ Xuân-Lôi còn lại 27 ca-khúc, trong khi nhạc sĩ Xuân-Tiên còn lại 32 bài hát, trong số đó có bài Tình Bắc Duyên Nam là nổi-tiếng nhứt. Đặc-biệt là hai anh em đều sử-dụng ăm-giai ngũ cung để sáng tác nhạc.

Tôi có dịp gặp nhâc-sĩ Xuân-Lôi và mời anh vào thăm viện bảo-tàng Musée de l'Homme. Anh có tặng cho viện bảo-tàng hai cây sáo để tàng trữ. Tôi có giới-thiệu anh vào một quyển loại Who's Who mang tên là The International Directory of Distinguished Leadership dể ghi giữ tiểu-sử của anh. Trong thời gian ở Pháp, anh có làm lại cây đàn Xuanloiphone hòn tất vào ngày 31 tháng 12, 1991. Anh có biểu-diễn cho tôi nghe, có chụp hình lưu-niệm.

Thỉnh-thoảng anh góp mặt vào những buổi sinh-hoạt cộng-đồng Việt tại Paris.



Nhạc sĩ Xuân Lôi (Phạm Xuân Lôi. Pháp danh Nguyên Lực) sinh ngày 17 tháng 10-1917 Mậu Ngọ, Hà-Nội
Tạ thế vào lúc 08:00 giờ, sáng ngày 29-8-2006 DL. Bính Tuất 5-7-2006 AL.
Hưởng thọ 89 tuổi

 
Trần Quang Hải

(in reply to anhthoa)
Post #: 154
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 12/25/2009 6:12:08 PM   
anhthoa

 

Posts: 4396
Joined: 6/1/2006
Status: offline
Nỗi lòng ca sĩ Bích Chiêu
 
Nữ ca sĩ thổi chất jazz đầy ngẫu hứng cho ca khúc "Nỗi lòng" của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh tái ngộ khán giả TP HCM sau nhiều năm xa cách. Ở tuổi 67, Bích Chiêu - chị cả của nam danh ca Tuấn Ngọc - mới bắt đầu thực hiện CD riêng đầu tiên của mình tại quê nhà.
- Hầu như khán giả Việt Nam chỉ biết đến cái tên Bích Chiêu qua duy nhất một ca khúc "Nỗi lòng". Chị giải thích thế nào?
- Nỗi lòng gắn với cuộc đời tôi như một định mệnh. Hầu như không có buổi diễn nào mà tôi không hát bài này, thậm chí có đêm hát đi, hát lại đến mấy lần. Lý giải thì có nhiều lý do, có thể tôi là một trong những người đầu tiên hát bài này, cũng có thể người ta thích cách hát ngẫu hứng, chọc ghẹo của tôi nên nhớ nhiều.
Thật ra tôi hát nhiều bài nhạc Việt lắm, cả nghìn bài đấy, nhưng là vào thời gian trước. 5 tuổi, tôi đã hát cho Đài phát thanh Đà Lạt. Vào Sài Gòn, song ca "em bé" Bích Chiêu - Tuấn Ngọc nhanh chóng nổi tiếng, dù lúc đó tôi 11-12 tuổi, không còn bé lắm (cười). Năm 13 tuổi, tôi bắt đầu đi hát phòng trà. Bài hát Nỗi lòng cũng được yêu mến từ thời gian này.
Sau này, đi học rồi định cư ở Pháp, tôi ít sinh hoạt với cộng đồng người Việt nên ít hát nhạc Việt hơn. Mà tôi cũng chưa thu một CD nhạc Việt nào. Chắc vì thế mà nhắc đến Bích Chiêu, khán giả chỉ nhớ ca khúc thành công nhất.





Ca sĩ Bích Chiêu được yêu mến nhất với bài hát "Nỗi lòng". Ảnh do ca sĩ cung cấp.
- Nhưng sau thành công bước đầu ấy, càng ngày khán giả càng ít thấy chị xuất hiện, tên tuổi của chị cũng không gây được tiếng vang nhiều như các em Khánh Hà, Tuấn Ngọc… Vì sao vậy?
- Là do hoàn cảnh đời sống cả. Ít lâu sau khi có tiếng ở Sài Gòn, tôi sang Pháp du học về thương mại, học nhạc cổ điển và lập gia đình, sống luôn ở đây. Không ở gần gia đình, lại sống trong khu vực chỉ toàn người ngoại quốc nên tôi ưu tiên hát nhạc ngoại. Tôi có thu một số album khi cộng tác với hãng SBS (Pháp) và vài trung tâm ở Colombia nhưng cũng chỉ nhạc ngoại. Tôi từng được Truyền hình Pháp chọn làm gương mặt châu Á tham dự Festival nhạc Jazz ở Bỉ với sự tham gia của 24 nước trên thế giới.
- Do đâu mà một cô bé mới 13-14 tuổi đã chọn cho mình cách hát vô cùng ngẫu hứng để phả chất jazz ngoại quốc vào một bài tình ca Việt?
- Đây gần như là một bí mật ít khi tôi chia sẻ, cũng là kỷ niệm không thể nào quên trong suốt cuộc đời này. Chẳng tài cán gì đâu. Ban đầu tôi cũng hát bình thường nhưng nhờ một lần tình cờ, tôi tìm thấy một nốt nhạc jazz trong đấy.
Ngày xưa đi hát, tôi hay bị các cậu trai trẻ chọc ghẹo. Có một cậu tỏ ra không thích ca sĩ, nhưng mỗi khi tôi xuất hiện lại cứ lải nhải liên tục, đến độ nhiều khi nhìn thấy anh ta, tôi sợ không dám hát, chỉ muốn bỏ chạy khỏi sân khấu. Tôi nhớ lần đó, ban nhạc dạo đến lần thứ 3 mà do phân tâm, tôi vẫn không vào được câu đầu. Giận quá, tôi gằn giọng thật mạnh 2 chữ đầu tiên "yêu ai" rồi buông thêm từ "khốn nạn" (lấy tay che miệng). Phóng lao thì phải theo, tôi giải thích thêm cho khán giả hiểu, "tình yêu khốn nạn lắm quý vị à, có lúc yêu, có lúc hờn, mình nặng lời là để thân mình đỡ khốn đốn". Khán giả vỗ tay hưởng ứng, giúp tôi lấy lại tự tin nhìn thẳng vào mắt anh ta mà nói "em yêu anh". Thấy mặt anh ấy cứ đờ ra, chỉ biết phủi tay theo kiểu ra dấu hiệu "thôi dẹp đi", tôi sướng quá, cười luôn.
Nhưng, nhờ 2 chữ "yêu ai" giận dữ ấy, tôi tìm thấy chất jazz lạ lẫm trong ca khúc Nỗi lòng. Về đến nhà sau đêm hát đó, tôi ngồi chỉnh sửa và chọn cách hát chọc ghẹo, ngẫu hứng để hoàn thiện cả bài. Tôi cứ nghĩ bụng, sau này gặp lại cậu trai ấy, tôi phải cảm ơn anh mới được (cười lớn).
- Hát jazz đòi hỏi sự ngẫu hứng rất cao mà chỉ những ai trải nghiệm cuộc sống nhiều mới có được. Chị gặp khó khăn gì khi chọn lối hát này từ nhỏ?
- Tôi thấy không có khó khăn gì cả. Thuận lợi của tôi là có được bản tính thích chọc phá người khác như bố (nhạc sĩ Lữ Liên) nên cứ theo đó mà hát. Mấy cậu trai trẻ mà nghe tôi nhấn nhá "yêu, yêu, yêu… ai" là thích lắm, lập tức hưởng ứng và nhại theo.
Nhưng đúng là trải nghiệm làm mình hát hay hơn. Đó cũng là lý do tôi thích giọng hát của mình sau này hơn lúc trước. Khi nghe, nó có đời sống, vui buồn, khổ hạnh của mình trong đó.
- Ở tuổi 67, những vui, buồn nào trong đời sống khiến chị không thể quên?
- Là ca sĩ, vui nhất vẫn là những giờ phút đứng trên sân khấu và quên hẳn mình đang sống, quên cả những lo toan của cuộc đời. Lúc đó, tôi như lạc vào thế giới khác, chỉ có riêng mình và khán giả đồng cảm tạo thành một gia đình. Có những tối về nhà, tự nhiên tôi thấy mình bật cười khi nhớ lại nụ cười của khán giả khi nghe mình chọc ghẹo.
Còn nỗi buồn… đau khổ nhất là thường xuyên phải xa gia đình, con cái. Không chỉ hát, tôi còn kiêm luôn nghề thông dịch viên trong các hội chợ, buôn bán vải và làm từ thiện. Cứ nay đây mai đó, đến mức tôi chỉ cần nghe câu hát "ta lê gót chân phong trần tha phương" là rơm rớm nước mắt. Đó cũng là một phần lý do khiến cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi đổ vỡ.





Ca sĩ Bích Chiêu trong một buổi diễn ở hải ngoại. Ảnh: S.T.
- Hiểu được như thế, sao chị không tự hạn chế bản thân để được gần gũi người thân nhiều hơn?
- Hoàn cảnh mỗi người một khác, tôi thì có muốn đừng cũng không được. Nhất là với lời hứa của mình, đã hứa là làm, là đi. Tôi không muốn để ai mất lòng vì mình cả. Đôi lần cũng biết tự kìm bản thân nhưng rồi đâu lại vào đấy, cứ như con nước trên sông xuôi một dòng.
Rất nhiều lần, tôi nghĩ giá như mình có thể quay ngược thời gian trở lại và tự hứa sẽ quản lý cuộc đời mình tốt hơn, gần gũi gia đình nhiều hơn. Tự trong thâm tâm, tôi luôn coi đây là nhược điểm lớn nhất, lỗi lầm lớn nhất của mình với người thân.
- Có thể xem, lần về nước biểu diễn này là một trong những cách mà chị muốn quay lại?
- Ý chính nhất của lần về này là tôi muốn thu thanh. Khán giả nghe và thích Bích Chiêu chắc cũng muốn sở hữu một album riêng của tôi. Có vậy người ta mới không nói là Bích Chiêu chỉ hát mỗi một bài Nỗi lòng (cười).
Còn việc hát ở phòng trà Văn Nghệ là một dịp tình cờ. Trong chuyến từ thiện đầu tiên ở Việt Nam hồi khoảng tháng 7/2008, người bạn quen ở Pháp đã giới thiệu tôi hát. Cho là tôi còn hát đến 70 tuổi đi thì tôi cũng còn 3 năm nữa. Cái nghiệp của mình còn kéo dài được mà.
- Các dự định của chị sắp tới?
- Ngoài album riêng, tôi còn dự định hát chung với Trịnh Vĩnh Trinh một CD gồm các bài hát về mẹ và tham gia một chương trình từ thiện trong tháng 4. Tôi cũng tăng cường công việc từ thiện tại Việt Nam như dạy trẻ em cơ nhỡ hát... như tôi từng làm ở nhiều nơi trên thế giới.




Bích Chiêu sinh năm 1942 tại Đà Lạt trong gia đình có truyền thống văn nghệ của nhạc sĩ, kịch sĩ Lữ Liên. Cô là chị cả của các ca sĩ có tên tuổi tại hải ngoại như: Tuấn Ngọc, Anh Tú, Khánh Hà, Lưu Bích, Lan Anh...
Từ nhỏ, Bích Chiêu tham gia hoạt động văn nghệ trong Đài phát thanh và hát cho Trường Thánh Mẫu (Đà Lạt). 12 tuổi, Bích Chiêu tham gia ban Hoa Xuân của Đài phát thanh Sài Gòn cùng ca sĩ Mai Hân, Mai Hương, Kim Chi, Quốc Thắng, Đoan Trang. 13 tuổi, cô bắt đầu hát ở các phòng trà và nổi danh nhất với ca khúc Nỗi lòng với lối hát phóng khoảng kiểu jazz.
Năm 1962, Bích Chiêu sang Pháp học nhạc cổ điển và lập gia đình với một người Italy, có 2 con. Hiện tại, chị sống với người chồng thứ hai người Việt Nam tại Pháp.

Nhiêu Huy thực hiện





(in reply to anhthoa)
Post #: 155
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 12/25/2009 6:20:41 PM   
anhthoa

 

Posts: 4396
Joined: 6/1/2006
Status: offline


Mai Hương


Nửa Thế Kỷ Gắn Bó Với Nghệ Thuật
Nghiêm Xuân Cường thực hiện
 
Trong các kỷ niệm của tôi về thuở niên thiếu, phải nói thời gian êm đẹp nhất là những năm tôi học từ lớp Đệ Ngũ đến Đệ Tam. Tôi nhớ lại những tháng năm ấy như một giòng sông êm đềm trôi mãi trong ký ức bởi lẽ ở tuổi mười bốn, mười lăm, tôi đã bắt đầu biết nghĩ và chớm yêu thơ nhạc nhưng vẫn chưa có gì phải lo nghĩ về thi cử hay về cuộc chiến. Những năm cuối thập niên 60, Sài Gòn vẫn còn huởng không khí tương đối yên bình. Nhiều kỷ niệm vẫn còn in sâu trong trí tôi cho đến ngày hôm nay là những buổi tối mấy chị em chúng tôi quây quần bên chiếc máy thu thanh trong căn gác nhỏ, chờ đón những chương trình nhạc mà tất cả chúng tôi đều ưa thích. Tiếng Nhạc Tâm Tình do Anh Ngọc phụ trách, Tiếng Tơ Đồng của cố nhạc sĩ Hoàng Trọng, Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn là ba chương trình mà không có tuần nào chị em chúng tôi bỏ qua. Hơn ba mươi năm sau, ngồi cách xa quê hương hơn nửa vòng trái đất, tôi vẫn còn nhớ lại nhũng giây phút thật xa nhưng cũng thật ngọt ngào mà dễ thương ấỵ Đó là một ốc đảo yên bình tràn đầy âm nhạc và tình tự quê hương khi bên ngoài cuộc chiến đang ngày càng đến gần thành phố.

Ở trong cái thế giới âm nhạc tuyệt diệu ấy, một giọng hát nhẹ nhàng và đầy đam mê đã đến với chúng tôi như một làn gió mát, một thoáng hương hoa của buổi đầu xuân. Dịu dàng nhưng thiết tha. Đó là tiếng hát của Mai Hương. Sau này khi đã sống ở bên Mỹ tôi vẫn được nghe tiếng hát Mai Hương. Giọng hát của chị sau hơn muời lăm năm tôi không được nghe không những đã không bị thời gian làm phai nhạt, trái lại còn có phần trong và mạnh hơn. Có thể vì kỹ thuật hòa âm và thu thanh chăng? Tôi nghĩ đây chỉ là một lý do phụ thôi. Lý do chính là Mai Hương luôn luôn hát với cả tấm lòng yêu âm nhạc, một tình yêu mà chị đã có từ những ngày còn thật bé vì vốn dĩ sinh trưởng trong một đại gia đình văn nghệ sĩ. Nghe từng bài của Mai Hương hát trong các CD của chị chúng ta nhận thấy cái trau chuốt, từ sự chọn lựa các bài hát trong các đĩa nhạc, cho đến sự trân trọng của chị qua từng nốt nhạc. Sống ở xa quê hương chúng ta có cách hay nhất làm dịu nỗi nhớ quê nhà bằng sự thưởng thức các tác phẩm văn chương hoặc thơ, nhạc. Mỗi chúng ta ra đi mang theo trong ký ức ít nhiều hình ảnh của quê hương: những khúc nhạc hay, một cổng trường vôi trắng hay một khuôn mặt dễ yêu nào đó... Riêng tôi, mỗi lần nghe lại tiếng hát Mai Hương là như thấy lại cả một trời kỷ niệm. Quê hương và nỗi nhớ tưởng chừng đã quên nhưng vẫn còn y nguyên bên mình. Chính ở trong nỗi nhớ đó chúng ta càng cảm nhận tầm mức quan trọng của những văn nghệ sĩ đã trọn đời gắn bó với các bộ môn nghệ thuật Việt Nam. Bởi lẽ qua tiếng nhạc lời ca, qua ký ức và những kinh nghiệm sống và trình diễn nghệ thuật của họ là tiềm tàng những hình ảnh thân thương của quê nhà mà tất cả chúng ta hằng yêu mến. Để thấy rõ thêm về điều này, chúng ta hãy nghe Mai Hương tâm sự về gần 50 năm gắn bó với âm nhạc Việt Nam của chị trong bài nói chuyện sau đây.

Nghiêm Xuân Cường (NXC): Xin chị cho độc giả được biết đôi nét về chị. Chị đi hát từ năm nào và có những kỷ niệm đặc biệt gì về những ngày đầu tiên đi hát?
Mai Hương (M.H.): Tên thật là Phạm Thị Mai Hương, tôi chào đời tại Đà Nẵng năm 1941. Thân phụ của tôi là ông Phạm Đình Sỹ, (người anh cả của ban Hợp Ca Thăng Long gồm có Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Hằng và Thái Thanh) và thân mẫu là nữ kịch sĩ Kiều Hạnh, đã từng tham dự và thủ diễn trong nhiều vở kịch lớn (như Lôi Vũ, Trong Bóng Hậu Trường) cũng như trong nhiều phim ảnh (Sóng Tình, Chúng Tôi Muốn Sống...) Thời thơ ấu tôi sống ở nhiều nơi: Huế, Thượng Du Bắc Việt, Hà Nội, rồi đến năm 1952 cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn và sống tại đây đến năm 1975. Lúc còn nhỏ, ở tuổi 12,13 tôi không nghĩ là sau này mình lại là một ca sĩ chuyên nghiệp. Lúc ấy bố mẹ bảo sao thì mình nghe vậỵ Thế là các cụ ghi tên cho tôi và bảo đi thi hát ở rạp Norodom (sau này gọi là rạp Thống Nhất) do Đài Phát Thanh Pháp Á tổ chức. Cũng vì có khiếu và thích hát ngay từ bé nên tôi hớn hở đi thi ngay. Qua các kỳ sát hạch, tứ kết, bán kết, tôi được vào chung kết vào cuối năm 1953. Lúc ấy tôi được người cô ruột là ca sĩ Thái Thanh tập cho bài Xuân Và Tuổi Trẻ (nhạc La Hối, lời Thế Lữ) để dự thi chung kết. Bài này điệu valse, tông Rê trưởng, cao và khó hát đối với một cô bé 12 tuổi. Tôi còn nhớ mỗi lần thi hát, ban tổ chức phải bắc một cái ghế để tôi đứng cho vừa với cái micro vừa cao lại vừa to che hết cả mặt mũi!

 

 

Qua khỏi lứa tuổi nhi đồng, bắt đầu hát với những ban người lớn thì tôi rất sợ. Nhiều người đã nổi tiếng và đã hát lâu năm trên các đài phát thanh. Đó là những người mà tôi phải gọi bằng cô chú, như chú Anh Ngọc, Ngọc Long, các cô Thái Thanh, Châu Hà, Mộc Lan, các anh chị Kim Tước, Duy Trác... Toàn những người hát giỏi, tôi lo sợ không biết mình có thể "cầm cự" nổi không. May nhờ có mấy năm tôi được theo học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc, nên cũng không đến nỗi nào! Đó là cảm tưởng của những ngày đầu đi hát của tôi.

NXC: Chị có kỷ niệm gì về những lần đi lưu diễn?
M.H.: Thật ra tôi là ca sĩ hát ở đài nên rất ít đi lưu diễn. Tôi nhớ mãi một chuyến đi trình diễn ở Đà Lạt năm 1960 với một ban đại hòa tấu và hợp xướng dưới sự điều khiển của một nhạc trưởng người Đức, tên là Otto Soelner. Toàn ban có đến gần 100 người, cả ca sĩ và nhạc sĩ của Đài Phát Thanh Sài Gòn và nhạc sinh trường Quốc Gia Âm Nhạc. Tôi và Quỳnh Giao là hai người trẻ nhất, tôi thì 19 tuổi, còn Quỳnh Giao thì mới 14. Lúc bấy giờ Việt Nam còn rất thanh bình nên đoàn chúng tôi đi bằng xe lửa từ Sài Gòn lên Đà Lạt và ở tại khách sạn Đà Lạt Palace. Chúng tôi trình diễn trường ca Con Đường Cái Quan của Phạm Duy. Đây là một tuyệt phẩm được thai nghén từ 1954, tức là khoảng thời gian chia cắt đất nước. Bốn năm sau, tức là khoảng 1958-1959 trường ca Con Đường Cái Quan được hoàn tất. Trước khi CĐCQ được trình diễn lần đầu tại Đà Lạt năm 1960 chúng tôi đã trình bầy tại Đài Phát Thanh Sài Gòn.

NXC: Xin chị cho biết về những tháng năm dưới mái trường QGAN
M.H.: Tôi theo học tại trường QGAN vài năm, từ năm 1958, song song với việc học chữ tại trường trung học Nguyễn Bá Tòng. Các giáo sư nhạc của tôi có lẽ đã qua đời cả rồi. Ông Nguyễn Cầu môn Ký Âm Pháp, ông Nguyễn Hữu Ba môn đàn tranh đều là bạn của Ba Me tôi. Ông Nguyễn Cầu mất tại Maryland cách đây vài năm, ông Nguyễn Hữu Ba mất tại Việt Nam cũng đã lâu. Thầy Hải Linh, dậy môn hợp xướng ,mất tại Quân Cam nên tôi được may mắn dự đám tang của thầỵ Các thầy Phạm Gia Nhiêu (violon), thầy Hai Biểu (đàn thập lục) đã mấy chục năm rồi không gặp nên tôi không biết đuợc tin tức của hai thầỵ Các giáo sư của tôi ông nào cũng hiền lành và thật dễ thương. Tôi quý các ông vô cùng.

NXC: Thời kỳ phôi thai của Đài Phát Thanh Sài gòn có lẽ là từ những năm 1954-1960. Chị nhớ gì về những ngày tháng đó?
MH: Đối với tôi những năm đẹp nhất ở Đài Phát Thanh Quốc Gia (mà sau này đổi thành Đài Phát Thanh Sài Gòn), và các Đài Tiếng Nói Quân Đội, Đài Tiếng Nói Tự Do, bắt đầu từ năm 1954 cho đến Tết Mậu Thân 1968. Những năm này thành phố Sài Gòn thật yên bình. Trở lại năm di cư 1954-55, một số ca nhạc sĩ từ Bắc vào Nam, tôi có thêm một bạn ca sĩ nhi đồng là Mai Hân, hiện đang phụ trách chương trình phát thanh của đài Little Sàigon vùng San Jose, bắc Cali. Các ca nhạc sĩ lớn tuổi hơn thì chúng ta có các nhạc sĩ Văn Phụng, Nhật Bằng, Đan Thọ, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Y Vân..., các ca sĩ Châu Hà, Ánh Tuyết (nổi tiếng với bài Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành), Mai Ngân, Vũ Huyến, Duy Trác...Các nhà văn/thơ Mai Thảo, Thái Thủy, Đinh Hùng, Quách Đàm, Thanh Nam, Nguyễn Đình Toàn...và còn nhiều người nữa mà tôi không thể nhớ hết.

NXC: Chị có những kỷ niệm gì về về những thập niên 1960, 1970?
M.H.: Khoảng năm 1963, Đài Phát Thanh Sài Gòn đón nhận một con chim họa mi xứ Thần Kinh. Đó là chị Hà Thanh, giọng ca số một ở Huế, một giọng ca cao vút và trong sáng. Trước khi chị Hà Thanh vào Nam, tôi đã được nghe nói đến tên chị rồi. Thế rồi các ca sĩ nhi đồng nhỏ tuổi hơn tôi như Quỳnh Giao, Hoàng Oanh cũng bắt đầu góp mặt trong các chương trình tân nhạc của các đài phát thanh. Riêng Hoàng Oanh có biệt tài về ngâm thơ ngoài lãnh vực ca hát nên cô góp giọng rất nhiều trong các chương trình thơ nhạc như Tao Đàn, Thi Nhạc Giao Duyên của cố thi sĩ Đinh Hùng. Đối với chúng tôi, những năm họat động ở trên các đài phát thanh là những năm đẹp nhất, đáng nhớ nhất. Tất cả các ca nhạc sĩ già, trẻ, lớn bé đều xem nhau như anh chị em trong một đại gia đình, yêu thương, kính trọng nhau, không có sự chèn ép hoặc ganh tị trong đài. Nói về các chương trình tân nhạc thì gồm toàn những bài bản giá trị, được các nhạc sĩ trưởng ban soạn cho ban nhạc và ca sĩ rất công phu. Hoà âm được viết cho từng nhạc cụ và từng bè của mỗi ca sĩ riêng biệt. Mỗi người nhìn vào phần của mình mà ráp với nhau. Ở đài chúng tôi thường hát theo hòa âm của các nhạc sĩ Vũ Thành, Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Nhật Bằng, Y Vân...
Nhưng từ năm 1968 trở đi không khí đài phát thanh mất vui nhiều lắm. Sau biến cố Tết Mậu Thân, Sài Gòn không còn vẻ thanh bình của những năm trước đó. Chúng tôi phải hát thêm loại nhạc "chiến dịch", nghĩa là khi được tin quân đội ta đánh thắng những trận nào, tin tức đưa về, là các anh nhạc sĩ Lê Dinh, Nhật Bằng, Minh Nhật, Trầm Tử Thiêng, phải sáng tác ngay một bài hát mới và đưa vào phòng vi âm cho chúng tôi thâu "ké" để kịp phát thanh ngay mừng chiến thắng vì lúc ấy chúng tôi đang thâu cho các chương trình tân nhạc. Rồi đến "Mùa Hè Đỏ Lửa 1972", khắp miền dồn dập những trận đánh lớn, nhỏ. Các bài hát chiến dịch tiếp tục được sáng tác và chúng tôi vẫn thâu thanh. Có nhiều hôm vừa ăn cơm tối xong, được điện thoại trên đài gọi đi thu thanh gấp. Tôi và Quỳnh Giao vừa lên đến nơi thì anh Minh Nhật dúi vào tay một bài hát mới toanh, bảo thu ngay bây giờ để phát thanh liền. Thế là chúng tôi mở to con mắt ra để mà nhìn, mà đọc, mà hát. Không có thì giờ để tập vì phải về nhà trước giờ giới nghiêm. Tôi chưa về đến nhà thì bài hát mình vừa thâu đã được phát ra rồi .Tôi vừa bước chân vào nhà, me tôi đã nói: "Me vừa nghe con hát trên đài. " Ba Me tôi ở cách chúng tôi có vài căn nên hay qua chơi với các cháu.
Từ năm 1972 đến 1975 một số người bỏ đài, không còn hứng khởi hát hò như xưa. Trong số đó có chị Kim Tước ra Nha Trang, chị Hà Thanh ra Huế. Các anh Thanh Vũ, Trần Ngọc (nhạc sĩ Tuấn Khanh) chú Anh Ngọc không hát nữa. Cô Thái Thanh cũng vậy. Trong đài bấy giờ chỉ còn tôi, Hoàng Oanh, cô Mộc Lan, chị Thể Tần và Phượng Bằng, Phương Nga. Quỳnh Giao thì không đi hát đều đặn như trước mà bận dậy đàn nhiều hơn. Ngày 22 tháng 4-1975 chúng tôi rời bỏ quê hương đi lánh nạn xứ người. Gia đình tôi gặp gia đình Quỳnh Giao trong trại tỵ nạn ở Guam. Chúng tôi vui mừng, cảm động đuợc gặp nhau mà nước mắt ròng ròng. Cũng tại nơi này chúng tôi gặp gia đình anh chị LưuTrung Khảo là hàng xóm sát vách của mình ở đường Bùi Thị Xuân. Lại khóc.

NXC: Chị có thích hát loại nhạc nào hơn không?
M.H.: Nói về sở thích loại nhạc mình hát thì tôi thích loại nhạc cũ, thể điệu êm dịu vì tôi thấy hợp với giọng của mình. Nhưng đã là ca sĩ ở đài phát thanh rồi thì mình không có quyền lựa chọn bài mình thích mà hát. Tất cả các chương trình thâu thanh đều do các người trưởng ban làm chương trình, bảo ca sĩ hát bài nào thì mình hát bài ấỵ Cho nên chúng tôi hát đủ các thể điệu, từ Boston, Slow, Rumba, Cha Cha Cha, Boléro, Tango Swing, Marche... Nếu là nhạc dân ca, cũng phải hát đủ cả ba miền, cả dân ca miền Thượng nữa. Ngoài những bài đơn ca, ca sĩ còn hát song ca, tam ca, tứ ca, hợp ca, đơn ca phụ họa. Khi thì mình hát solo người khác phụ họa, hoặc ngược lại. Vì vậy mới có ban Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng mà người ta thường ví với các ban của Ed Sullivan hoặc Lawrence Welk của Hoa Kỳ, cũng với hình thức như vậy!
Nói về tam ca, thì tôi cảm thấy hát hợp nhất với chị Kim Tước và Quỳnh Giao. Vì vậy khi ra hải ngoại chúng tôi tìm đến nhau lập ra ban Tam Ca "Tiếng Tơ Đồng" để nhớ đến nhạc sĩ Hoàng Trọng còn kẹt lại ở Việt Nam. Đến năm 1992, nhạc sĩ Hoàng Trọng qua Mỹ đoàn tụ với các con, ban tam ca chúng tôi đuợc đổi thành "Tơ Vàng". Sau khi ông qua đời, chúng tôi dùng lại tên "Tiếng Tơ Đồng" để tưởng nhớ đến ông, và vẫn hoạt động đến bây giờ. Mỗi khi có một đêm tổ chức âm nhạc thì chúng tôi lại có dịp hát chung với nhau.

NXC: Mỗi lần hát chung như vậy các chị có phải tập dượt trước nhiều không?
M.H.: Mỗi người chúng tôi đều vững nhạc lý rồi nên không cần tập dượt cho mấy nhưng tất nhiên là khi hát với ban nhạc thì phải tập với ban nhạc chứ.

NXC: Có những sinh hoạt nghệ thuật nào ở hải ngoại mà chị cho là đáng kể?
M.H.: Tôi không theo dõi sinh hoạt âm nhạc hải ngoại sau 1975 vì quá bận rộn với công việc sở làm và gia đình nên chắc chắn không thể biết hết được, chỉ có thể nói về các sinh hoạt mà mình có tham dự. Tôi nhớ là vào năm 1977 nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nay đã quá cố, hướng dẫn một đoàn văn nghệ gồm các bộ môn ca, vũ, nhạc, kịch sang Pháp trình diễn. Đây là chuyến trình diễn đầu tiên tại nước ngoài sau năm 1975 của tôi. Mấy năm sau nhạc sĩ Cung Tiến tổ chức một đêm âm nhạc "Bốn Mươi Năm Phạm Đình Chương" tại Minnesota, rồi anh Lê Văn của đài VOA cũng tổ chức "Bốn Mươi Lăm Năm Âm Nhạc Phạm Đình Chương" tại Washington, D.C. Đến năm 1987 cũng anh Lê Văn hướng dẫn một phái đoàn văn nghệ đi trình diễn ở các nước Âu Châu như Pháp, Đức, Thụy Sĩ. Khoảng năm 1990, một "Đêm Nhạc Cung Tiến" đuợc tổ chức ở San Jose, California với giàn nhạc giao hưởng của San Jose. Sau đó "Đêm Nhạc Cung Tiến" được tổ chức ở Disney Hotel tại Anaheim, CA với giàn nhạc đại hoà tấu của Orange County.
Cũng khoảng thời gian này, có sự xuất hiện của ban đại hoà tấu và hợp xướng Ngàn Khơi với thành phần ca sĩ và nhạc sĩ ngót 100 người. Ban Ngàn Khơi do hai chị em chị Nguyễn Thị Nhuận (bác sĩ) và Nguyễn Thị Ngọc Sương (nha sĩ) sáng lập. Đây là một ca đoàn lớn và một ban nhạc lớn mà phần phụ soạn hoa âm do các nhạc trưởng Lê Văn Khoa và Trần Chúc đảm nhiệm. Phần nhạc và phần hát tập luyện rất công phu mà tất cả các ca, nhạc sĩ đều hết lòng làm việc. Đây là một công trình văn hóa rất đáng khen.
Gần đây nhất phải kể đến một đêm "Tình Ca Ngô Thụy Miên Qua Bốn Thập Niên" vào tháng 9 năm 2000 tại Quận Cam do hai người bạn thân của anh Ngô Thụy Miên là Phạm Duy Quang và Nguyễn Cửu Tuấn tổ chức để vinh danh người nhạc sĩ với thật nhiều bản nhạc tình bất hủ này. Buổi tổ chức quá chu đáo, thành công mỹ mãn và được giới thưởng ngoạn đón nhận thật nồng nhiệt. Thế rồi vào tháng 2, 2001 cũng các bạn trong nhóm này tổ chức hai buổi "Nhạc Thính Phòng Và Các Nhạc Phẩm Tiền Chiến" tại San Jose và Quận Cam đều được đón nhận rất nồng nhiệt. Theo tôi, có lẽ những đêm âm nhạc kể trên là đáng ghi nhớ nhất.

NXC: Chị có so sánh gì về nhạc Việt và nhạc ngoại quốc?
M.H.: Nói chung thì những bản nhạc của Tây phương nhất là nhạc phổ thông (pop music) đều có lời ca rất đơn giản, đôi lúc còn có nét ngây ngô. Trái lại, nhạc Việt, nhất là những bản nhạc tiền chiến thì lời ca thật là công phu, nhiều lúc phần lời cũng quan trọng không kém phần nhạc, thí dụ điển hình nhất là những bản nhạc của Đoàn Chuẩn lời Từ Linh, hoặc các bài của Văn Cao, Phạm Duy... Thêm vào đó, mỗi chúng ta đều có ít nhiều kỷ niệm với một hay nhiều bản nhạc thành ra khi nghe những bài ấy thì giòng nhạc lại gợi cho chúng ta bao nhiêu là kỷ niệm thân yêu về gia đình, bạn bè, quê hương, thân phận... Vì thế, nếu chúng ta đã lớn lên với âm nhạc Việt Nam thì nó đã trở thành một phần đời của mình rồi, nhạc ngoại quốc dù hay đến đâu cũng không thể nào cho mình cái rung cảm như khi nghe nhạc Việt.

NXC: Có một điều mà ít người biết đến là chị cũng hát thánh ca khá nhiều. Cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có lần nói: " Mai Hương là người ca sĩ có giọng ca thật điêu luyện và được đánh giá là người hát thánh ca hay nhất. " Chị có thể nói qua về các sinh hoạt này không?
M.H.: Lúc còn nhỏ, tôi được cha mẹ cho đi học tại các trường Công Giáo, trường tiểu học Thánh Linh của các sơ và sau đó là trung học Nguyễn Bá Tòng của các cha. Khi học ở trường Thánh Linh tôi đã tham dự vào các sinh hoạt của trường trong các dịp lễ lớn như Giáng Sinh và Phục Sinh. Lúc ở trung học Nguyễn Bá Tòng tôi được hân hạnh hát trong ban nhạc Hương Quê do nhạc trưởng Hải Linh, bấy giờ mới ở Pháp về, hướng dẫn. Sau này khi qua Mỹ, tôi cũng có dịp cộng tác với các chương trình thánh ca của Đài Phát Thanh Viễn Đông (Far East Broadcasting Corporation, FEBC) do ông Nguyễn Hữu Ái phụ trách. Một điều làm tôi rất được khích lệ là các anh chị em trong đài FEBC nhận được khá nhiều thơ do thính giả của đài gởi về từ những nơi thật xa xôi hẻo lánh như các tỉnh miền Trung, miền Nam nói là họ có nghe những bài ca do tôi hát với lời ca thật rõ ràng, và những bài ca đó đã truyền đạt thật thấm thía cho họ những lời giảng dậy của Chúa.

NXC: Một số các nhạc sĩ lão thành và tên tuổi của nền âm nhạc Việt Nam lần luợt từ giã chúng ta. Gần đây nhất, ngày 15 tháng 10 vừa qua, nhạc sĩ Ngọc Bích (tác giả của nhiều nhạc phẩm bất hủ Mộng Chiều Xuân, Trở Về Bến Mơ, Khúc Nhạc Chiều Mơ...) vừa từ trần. Chị nhớ gì về người nhạc sĩ lão thành này?
M.H.: Năm 1952 gia đình tôi dọn vào Nam vì Ba tôi là công chức bị thuyên chuyển đi nhiều nơi. Gia đình tôi lúc bấy giờ sống rất thanh bạch vì chỉ có mình thân phụ tôi đi làm nuôi vợ và ba con. Hàng xóm của chúng tôi bấy giờ là nhạc sĩ Ngọc Bích. Năm 1953, ông Ngọc Bích và vợ là ca sĩ Lệ Nga được một người con trai tên là Kim Ngọc. Me tôi vẫn hay sang giúp bà Lệ Nga tắm cho cậu con trai. Một chi tiết ít người biết đến là nhạc sĩ Ngọc Bích còn là một ca sĩ và khi đi hát thì ông dùng tên Kim Ngọc. Ông cũng sáng tác dưới một tên khác là Thái Thu một bản nhạc điệu Swing cũng rất là dễ thương tên là Hương Tình "Ngồi bên em dưới trăng mơ màng. Lòng ngây ngất nhịp mấy cung đàn..." Khoảng năm 1954, ông lập ra ban hợp ca Hồng Hà gồm có ông, các ca sĩ Ánh Tuyết và Thùy Dương. Ban này hoạt động chỉ được một thời gian ngắn. Năm 1956 ông làm trưởng ban cho một ban nhạc của Đài Phát Thanh Quân Đội tôi và hai chị em Mai Ngân, Mai Hân được mời cộng tác với ông trong một thời gian ngắn. Tuy đã biết sinh ly tử biệt là định luật bất di bất dịch của trời đất, nhưng mỗi một mất mát là một lần làm tôi không khỏi ngậm ngùi và càng thấy cần thiết việc giới thiệu những bản nhạc hay mà giới yêu nhạc ít biết đến.

NXC: Chị có dự tính gì cho tương lai ?
M.H.: Dự tính gì cho tương lai ư? Tôi không có dự tính gì to tát hơn là vui với các con và các cháu nội ngoại. Tôi và nhà tôi, anh Trương Dục vừa kỷ niệm bốn mươi năm ngày thành hôn. Chúng tôi được 2 trai, 2 gái; cháu lớn nhất 38 tuổi, nhỏ nhất 27 tuổi. Tôi rất mãn nguyện vì mình đã làm tròn bổn phận với gia đình: dựng vợ gả chồng cho 4 đứa con; các con tôi đều tốt nghiệp đại học và có công ăn việc làm tốt đẹp, lại có thêm những đứa cháu nội, ngoại thông minh và dễ thương. Quả thật tôi không thể đòi hỏi gì hơn nữa.
 
Tôi cảm thấy hài lòng với những gì mình có, và không phủ nhận là mình đã gặp được nhiều may mắn. Bây giờ tôi có nhiều thì giờ hơn để có thể làm những mình muốn làm và thích. Sau 22 năm làm cho Bank of America, tôi vừa xin nghỉ việc vào tháng giêng năm 2000 vì cảm thấy mệt mỏi và chán công việc. Tôi đang cố gắng sưu tầm các bài hát cũ rất có giá trị của các nhạc sĩ tên tuổi mà lâu nay hầu như bị bỏ quên. Đó là những bài hát quá hay từ nét nhạc đến lời ca mà sao ít người biết đến!!? Tôi muốn làm công việc giới thiệu này để nhắc nhở cho những người yêu nhạc rằng kho tàng âm nhạc Việt Nam rất phong phú bằng cách ghi âm lại những bài hát ấy để lưu lại một cái gì cho người, cho mình. Tôi cũng muốn ghi lại giọng ca của mình trong lúc còn có thể hát được vì có ai trẻ mãi với thời gian. Những bản nhạc mà tôi đã chọn để hát cho khoảng hơn 10 CDs cho các trung tâm Diễm Xưa, Tú Quỳnh, Mai Ngọc Khánh...cũng không ngoài mục đích kể trên.

NXC: Xin cảm ơn chị Mai Hương đã dành cho những người yêu nhạc một cuộc nói chuyện thật thích thú và mong sẽ tiếp tục được đón nghe những CD nhiều giá trị nghệ thuật của chị.

oOo
Trong tất cả các bộ môn nghệ thuật, tôi nghĩ văn chương và âm nhạc là hai thứ thân thuộc với tâm hồn chúng ta nhất. Trời bắt đầu trở thu chúng ta lại càng cảm thấy sự cần thiết phải gần gũi với những đoạn văn, thơ, nhạc để giữ lại phần nào cái Việt Nam tính trong cuộc sống tha hương của mình. Mấy ai trong chúng ta lại không thấy lòng se lại trong buổi đầu thu, nhìn các em bé cắp sách đến trường và lòng nhớ đến một đoạn văn thật trong sáng của Thanh Tịnh : "Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nao những kỷ niệm đầu tiên của buổi tựu trường ..." Một buổi chiều thu nhiều lá vàng rơi gợi lại cho ta những hình ảnh về thu, tuyệt vời như trong thơ Bích Khê "Ô hay, buồn vương cây ngô đồng. Vàng rơi, vàng rơi, thu mênh mông... " và lòng liên tưởng đến "Buồn Tàn Thu" của Văn Cao "Ai lướt đi ngoài sương gió. Không dừng chân đến em bẽ bàng... " Mùa thu mênh mông lại trở về trên đất khách, càng nhớ nhà, chúng ta lại càng trân trọng chút di sản văn hóa của quê hương còn đọng lạitrong trí nhớ. Ngậm ngùi và đáng tiếc xiết bao nếu một hoặc hai thế hệ nữa con cháu chúng ta không còn biết đến nguồn gốc hay văn hóa của mình, và những người nhạc sĩ, thi văn sĩ còn sống hay đã khuất cũng sẽ cùng một tâm trạng như văn hào Nguyễn Du "Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như" (tạm dịch: Không biết rồi ba trăm năm nữa, Thiên hạ ai người khóc Tố Như).
Điểm lại những CD mà Mai Hương đã thực hiện tại hải ngoại chúng ta thấy đây là những ca khúc thật chọnlọc, tiêu biểu cho một thời vàng son của nhạc Việt. Bước vào thế giới của những ca khúc đó chúng ta tưởngtượng mình đang đi vào một thời đại khác khi ngôn ngữ và âm nhạc thật xúc tích, lời và nhạc như quyện vào nhau. Đối tượng của những bài hát này cũng không ngoài tình yêu, nhưng tình yêu ở đây không chỉ giới hạn trong tình yêu lứa đôi mà còn là tình yêu đất nước, tình yêu thiên nhiên. Qua CD mới nhất của chị có tên là Lỡõ Chuyến Đò phát hành vào tháng 7-2001, hãy đ tiếng hát nhẹ nhàng và trong sáng của Mai Hương đưa chúng ta trở về quá khứ thật êm đềm qua giòng nhạc của nhạc sĩ Anh Việt, tác giả của những bản nhạc trữ tình khác như Bến Cũ (1946), Thơ Ngây (1951)...Lỡ Chuyến Đò (1947) diễn tả nỗi phân vân của người trai thời loạn, bên nợ nước, bên tình riêng "...Chiều vàng lại đem nhớ tiếc thương Đây người sang với con đò xưa. Và chiều chiều thôn nữ thôn nữ vấn vương. Duyên tình xưa êm thắm còn đâu. Người nghệ sĩ lăn lóc gió sương. Tơ đàn say đắm quên sầu thương. Dành tình này cho kẻ khổ đau. Quên tình xưa thôn nữ chờ mong ... " Tiếp đến, ta hãy lắng nghe giọng ca của Mai Hương, nhẹ nhàng, trong vút và bay bổng trong ca khúc Hương Quê của Nhật Bằng và Huỳnh Hiếu "Chiều nay nắng êm đềm sau lũy tre. Trên trời xanh bầy chim bay trở về. Tiếng tiêu mục đồng hát trên đê. Sáo vi vu chìm lắng đê mê. Xa xa xa đoàn nông phu vác cuốc cùng đàn trâu đi trên đường về đâu..." Như chiếc đũa thần huyện diệu của nàng tiên Âm Nhạc, giọng hát trìu mến và đầy đam mê của chị đưa chúng ta tiếp tục trong chuyến đi ngược giòng thời gian trở lại quê hương trong một trời yên bình không tưởng "Lùa theo gió êm đềm bao tiếng tiêu. Chuông chùa ngân chìm lắng trong sương chiều. Khói lam bên đồi phất phơ baỵ. Bóng đêm chìm lặng giấc mơ say... " Lòng người tha hương như say sưa theo tiếng hát và giòng nhạc. Ngắm trăng thu xứ người, chúng ta không khỏi nhớ đến ánh trăng huyền diệu của thuở ấu thơ, được mô tả tài tình qua nhạc và lời của cố nhạc sĩ Văn Phụng trong Hình Ảnh Một Đêm Trăng : "Khi ấu thơ, ngồi trong bóng trăng nhìn theo áng mây đưa. Nghe má ba kể trong ánh trăng Cuội đang sống say sưa. Rồi thôn xóm bừng lên tiếng reo hòa theo khúc ca ngân. Tiếng ngây thơ bầy em múa ca, mời trăng thu xuống trần... " và lòng khách tha hương không khỏi xót xa vì ".Thu đã đem nguồn vui tới đây, điểm tô ánh trăng mơ. Nhưng thấy đâu mùa trăng ấu thơ, mùa trăng lúc ngây thơ. Mầu trăng sáng cùng muôn khúc ca ngày xưa đã trôi qua. Ánh trăng xưa lòng tôi vẫn ghi, thời gian chưa xóa mờ ".
Trong một buổi chiều thu giá lạnh của Bắc Mỹ, lòng người tha hương như được sưởi ấm khi nghe lại giọng ca quen thuộc, thân thương của Mai Hương qua những bản nhạc tưởng chừng không bao giờ được nghe lại như Tạ Từ (khoảng 1946) của Tô Vũ. Lời và nhạc như vọng về từ một cõi xa xưa mơ hồ nào đó "Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh, gió dâng khúc đàn thanh bình. Ta đi tìm thơ muôn phương gót in núi rừng thâm u, và lướt trên muôn trùng sóng. Lời anh thầm ước khi nao, dưới trăng giữa mùa hoa đào. Trong ánh dư âm còn vang tiếng đồng. Lầu chiều còn luyến ánh hồng, lầu xây trong không, sóng gió rót chia ly. Phồn hoa em chia tay ra đi, đưa chân dừng bước bên cầu, giã từ mấy câu. ...Tình anh như thông đầu non. Vời cao trông mây buồn đứng. Muôn kiếp cô liêu, ngàn năm còn reo. " Bản nhạc đem cho tôi nhiều cảm xúc nhất là một bài cũng rất hợp với giọng của chị: nhẹ nhàng, không chải chuốt nhưng tràn đầy thiết tha. Tôi đã có những giây phút tuyệt vời khi nghe lại Khúc Nhạc Chiều Mơ của nhạc sĩ Ngọc Bích, người vừa từ giã chúng ta cách chúng ta vài tuần trước đây, "Chiều nay nhớ về phía xa mờ. Ngoài khơi sóng dạt dào ước mơ. Phút say sưa lời nguyền hoà với tiếng tơ. Chờ ngày mai gió reo lời thơ. Về đâu hỡi bầy lũ chim rừng. Ngừng đây nhắn dùm lời nhớ thương. Nhớ đêm nao ôm đàn lòng thổn thức vấn vương. Nhạc sầu mơ khúc ca hồi hương... Còn đâu những đêm dưới trăng mờ. Còn đâu những lời nguyền ước xưa. Nét môi ngây thơ dịu dàng làn tóc gió đưa. Lòng ta xao xuyến trong chiều mơ. .." Những tình cảm được ghi lại bởi người nhạc sĩ tài hoa mấy chục năm trướcvẫn có một sức quyến rũ kỳ lạ với người nghe. Người nhạc sĩ tuy đã khuất, nhưng tinh hoa của những ca khúc của ông sẽ mãi mãi còn với thời gian. Sau bao nhiêu năm tôi mới được nghe lại những giòng nhạc thật thiết tha và hợp với tâm trạng xa quê hương của mình, quả thật đó là một hạnh phúc không nhỏ. Những bản nhạc bất hủ khác trong CD như Nhạc Sĩ Với Cây Đàn (Nguyễn Văn Khánh), Cô Hàng Hoa (Thẩm Oánh), Bến Nước Tình Quê (nhạc Mạnh Phát, lời Mộng Bảo), Lỡ Cung Đàn (HoàngGiác) Ước Hẹn Chiều Thu (Dương Thiệu Tước), đều gây cho người nghe cảm giác lâng lâng khi tìm lại được một quãng đời đánh mất. "
Dư âm tiếng hát đã lắng, giòng nhạc đã dứt, nhưng người nghe còn vương vấn mãi trong tâm tưởng một hình ảnh của quê hương Việt Nam những ngày chưa khói lửa chiến tranh. Xin cảm ơn tất cả những nhạc sĩ tài hoa, và những người làm nghệ thuật nói chung, đã đem đến cho đời những bông hoa đầy hương sắc. Và cảm ơn Mai Hương, vì qua giọng hát điêu luyện của mình, chị đã nhắc lại cho chúng ta những nét đẹp tuyệt vời của nhạc Việt Nam. Tiếng hát của Mai Hương luôn đem đến cho người yêu nhạc những giây phút thật ấm lòng, và nếu ngày nào còn người Việt ly hương với nỗi sầu ưu quốc, ngày ấy tiếng hát của chị, như tiếng mẹ ru ta vào đời khi còn thơ dại, sẽ theo chúng ta trên các nẻo đời, sẽ mãi mãi bay cao "như thông đầu non. Vời cao trông mây buồn đứng. Muôn kiếp cô liêu, ngàn năm còn reo. "


Nghiêm Xuân Cường thực hiện
 

(in reply to anhthoa)
Post #: 156
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 12/29/2009 8:23:28 PM   
anhthoa

 

Posts: 4396
Joined: 6/1/2006
Status: offline
Ca nhạc sĩ Mạnh Quỳnh



Nhạc sĩ Mạnh Quỳnh tên thật là Nguyễn Đình Mạnh sinh năm 1952 tại Sài Gòn . Trước 1975, Mạnh Quỳnh đi lính không quân tại sân bay Biên Hòa (cùng khóa huấn luyện với ca sĩ Anh Khoa) và trong thời gian này Mạnh Quỳnh tham gia học hát tại lớp nhạc của nhóm nhạc sĩ Lê Minh Bằng (Lê Dinh Minh Kỳ Anh Bằng) tại đường Hai Bà Trưng (chợ Tân Định) khoảng năm 1960. Sau đó, tốt nghiệp khoá trưởng Tràng năm 1967 ông tham gia hát trên đài phát thanh Quân đội (đài Tâm lý chiến) cùng song ca với ca sĩ Giáng Thu . Một số bài hát đã thu âm thời đó như:

- Hai đứa giận nhau (Tác giả Hoài Linh) trong băng Sóng nhạc 2.
- Tuyết lạnh (Song ca Mạnh Quỳnh Giáng Thu).
- Trái cấm (Tác giả Hoàng Trang - Mạnh Quỳnh đơn ca).
- Năm cụm núi quê hương ( Chủ đề số 4 Nguyễn Văn Đông - Mạnh Quỳnh đơn ca)

Và một sáng tác rất nổi tiếng của ca nhạc sĩ Mạnh Quỳnh là nhạc phẩm “Một lần ghé thăm” hay “Gõ cửa” sáng tác năm 1968 và được nữ ca sĩ Thanh Tuyền trình bày trong Sóng nhạc 2 . (tác phẩm thường bị lầm lẫn tác giả là Anh Bằng - nhưng chuyện này không thể xảy ra được vì không lẽ thầy lại đi lấy tác phẩm của học trò mình và nhận đó là của mình sáng tác).

Hiện tại (2006), Mạnh Quỳnh vẫn còn sinh sống tại Việt Nam và không còn tham gia văn nghệ nữa . Thỉnh thoảng ông chỉ liên lạc với những ca sĩ, nhạc sĩ cùng thời còn ở lại Việt Nam như Trang Mỹ Dung, Thanh Sơn, Hoài Linh (mới mất năm 2000) ...

Nhạc sĩ Mạnh Quỳnh vốn là học trò của nhóm nhạc sĩ Lê Minh Bằng. Hiện tại (2006) Mạnh Quỳnh vẫn còn sống tại Việt Nam và vẫn thường liên lạc với NS Thanh Sơn (Nỗi buồn hoa phượng), Trang Mỹ Dung... Nghệ danh Mạnh Quỳnh là do chính nhạc sĩ Anh Bằng đặt cho người học trò ưu tú của mình. Trong một lần đi học tại lớp trưởng Tràng năm 1967, chung khóa với ca sĩ Tài Lương, nhạc sĩ Anh Bằng có hỏi Mạnh Quỳnh là em tên gì. Mạnh Quỳnh đáp là em tên Mạnh. Lúc đó nhạc sĩ Anh Bằng mới đề nghị là thêm chữ Quỳnh vào để làm nghệ danh luôn. Tên Mạnh Quỳnh từ đó mà ra.

Goldenmusic

(in reply to anhthoa)
Post #: 157
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 12/29/2009 10:16:22 PM   
anhthoa

 

Posts: 4396
Joined: 6/1/2006
Status: offline
Ca Sĩ Túy Hồng


Trong giai đoạn năm năm cuối của thập niên 50, trong ca trường nhạc giới xuất hiện những khuôn mặt như Việt Ấn, Thanh Hùng, Mai Trường, Duy Mỹ (bên nam), Kim Vui, Minh Tuyết, Tuyết Hằng (bên nữ)…Đó không phải là lực lượng hùng hậu cho lắm, nhưng vẫn có một vài chân tài, dù các tài năng đó không chói sáng và không tồn tại lâu dài đi nữa. Riêng ban Dân Nam dào tạo thêm nữ kịch sĩ Túy Hồng. Cô này chẳng những đóng kịch hay mà còn ca hát tiến bộ vùn vụt để trở thành một giọng hát có bản lĩnh vượt xa những giọng hát nữ bên ban Sầm Giang.

Túy Hồng: Tên thật của chị là Trương Ánh Tuyết, quê ở Bình Dương. Thuở còn con gái, chị có khuôn mặt tròn thật ăn ảnh và thật duyên dáng cùng vóc mình nhỏ bé và xinh xắn. Trên làn song điện, Túy Hồng thủ những vai nhì sau Túp Phượng trong các vở thoại kịch do Anh Lân biên soạn cho ban Dân Nam. Nhưng khi các vở kịch nầy được đưa lên sân khấu thì các vai của Túp Phượng lại giao cho Kim Cương, nhưng Túy Hồng vẫn giữ vai cũ của mình.

Túy Hồng lúc khởi nghiệp hát không hay. Về sau, nhờ có nhạc sĩ Lam Phương chỉ dẫn nên chị hát rất nghề. Những bản nổi tiếng của Lam Phương như “Chiều Tàn”, “Đèn Khuya”, “Mộng Ước”, “ Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi” được chị trình bày thật truyền cảm. Và nhất là bản “Phút Cuối” mà chị cùng hát với Diên An và được thu thanh vào dĩa Việt Nam loại 45 tours phải nói là tuyệt chiêu. Giọng Túy Hồng trong và hơi chát, nhưng chị biết xử làn hơi để che lấp cái âm sắc chát chát đó để rồi thả vào giọng những tình cảm nồng mặn đậm đà. Chuỗi ngân của chị rất điêu luyện. Tiếc thay về sau người ta chị mến chị qua vai nữ kịch sĩ Túy Hồng chứ không mến chị qua nữ ca sĩ Túy Hồng. Chị ca hát hay mà rồi rốt cuộc như người mặc áo gấm đi đêm

Về điện ảnh, Túy Hồng có đóng ba phim: Gác Chuông Nhà Thờ (do Lê Hoàng Hoa đạo diễn), Nhà Tôi (do Lê Dân đạo diễn) và sau hết là phim hài hước Lệch Bà Xã…

Khi ra hải ngoại, Túy Hồng tích cực hoạt động về ca hát và diễn kịch hơn bao giờ. Chị là một trong các ông bà bầu thực hiện chưong trình ca nhạc hài kịch trên băng hình sớm nhất. Trong mỗi băng hình, ban kịch Sóng, do chị lèo lái có một vở hài kịch do chị chủ diễn và một tiết mục đơn ca do chị đảm nhận.

Nhưng rồi cuộc hôn nhân giữa chị và Lam Phương lại tới hồi gảy đổ, không sao cứu vãn nỗi . Lam Phương qua Paris xây tổ uyên ương với một hoa khôi đẹp mê hồn tên Cẩm Hường. Riêng việc ly dị làm cho Túy Hồng đau khổ không ít. Nhưng chị vẫn xông pha vào cuộc mưu sinh để nuôi con. Chị còn mở một trung tâm mỹ viện khi công cuộc ca hát diễn kịch của chị bắt dầu xuống dốc.

Hồ Trường An

(in reply to anhthoa)
Post #: 158
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 1/7/2010 6:32:40 PM   
anhthoa

 

Posts: 4396
Joined: 6/1/2006
Status: offline
Nhạc sĩ Anh Hoa
 
Nhạc sĩ Anh Hoa được chúng ta biết đến qua vài sáng tác hiếm hoi của ông còn để lại cho đời, ông nổi tiếng với ca khúc “Hận Ly Hương”, bài hát có giai điệu thiết tha ghi sâu vào lòng người ly hương mối cảm sầu pha lẫn tiếc nuối nghẹn ngào, ngược lại ca khúc “Trăng Phương Nam” của ông lại thật êm đềm tình cảm mênh mông. Ông có viết lời Việt bài “Khúc Ca Muôn Thuở” mà chúng ta đều thích thú qua tiếng hát Thái Thanh.
Ngoài ra, ông còn sáng tác những nhạc phẩm “Đợi Anh” “Quê Người Miền Bắc”, “Tà Áo Trắng”, “Tiễn Người Chinh Phu
”… đã được các nhà xuất bản Diên Hồng, Tinh Hoa ấn hành mà không biết có ca sĩ nào thu âm chưa.
Về hình ảnh và tiểu sử của nhạc sĩ Anh Hoa thì chắc phải đợi các vị sưu tầm đồ cổ nổi tiếng của PX chứ Hư không biết gì hơn nữa.

Bây giờ mời cả nhà thưởng thức ca khúc “Trăng Phương Nam”, Hư nằm lòng bài này cũng nhờ cái la-dô của nhà hàng xóm, thời còn nhỏ ngày nào cũng nghe câu hát “Đây phương Nam đây ruộng Cà Mau no lành …” vang lừng khắp nơi, bây giờ nghe lại lòng ngậm ngùi sao mà thương quá là thương !




Trăng Phương Nam

Tiếng hát Thanh thúy


Đây phương Nam đây ruộng Cà-Mau no lành,
Với tiếng hát êm đềm trong suốt đêm thanh
Quê hương anh lúa rợp khắp bờ ruộng xanh,
lúa về báo nhiều tin lành từ khắp quê cùng kinh thành

Đây phương Nam đây tỉnh Cần-Thơ êm đềm,
Có lúa tốt quanh vùng nuôi sức dân thêm
Quê hương em bóng dừa ấp ủ dịu êm
những chiều trăng rọi bên thềm
vẳng những tiếng cười vui hiền
Quê hương đôi ta đồng xanh xanh bao la !
Tình thương như sắn cà một niềm mặn mà
Quê hương đôi ta gần nhau đây không xa
Kìa trông bao mái nhà ở vùng làng ta

Ai vô Nam ngơ ngẩn vì muôn câu hò
Những tiếng đó khơi nguồn nơi sống ấm no
”Trăng phương Nam” sáng tỏa khắp bờ Cửu-Long,
nước chảy con thuyền xuôi giòng
vọng tiếng khoan hò ấm lòng ….



(in reply to anhthoa)
Post #: 159
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 1/7/2010 6:45:19 PM   
anhthoa

 

Posts: 4396
Joined: 6/1/2006
Status: offline
nhạc sĩ Bảo Thu


Bảo Thu: Từ ảo thuật gia thành nhạc sĩ


Ông là nhạc sĩ của những ca khúc quen thuộc với đông đảo quần chúng từ trước năm 1975 như "Ước vọng tương phùng", "Giọng ca dĩ vãng", "Đừng hỏi vì sao tôi buồn". Ngoài ra, ông còn nổi tiếng là ảo thuật gia có tài. Dưới đây là tâm sự của ông.

- Tại sao từ ảo thuật gia Nguyễn Khuyến, ông lại trở thành nhạc sĩ Bảo Thu?

- Con người tôi khá ôm đồm. Ngoài ảo thuật, tôi còn sáng tác nhạc, biên tập, dàn dựng, đạo diễn nhiều chương trình và phim video ca nhạc. Thậm chí cả lĩnh vực múa, kịch rối tôi cũng đã học ở Hà Lan năm 1971. Riêng âm nhạc, 8 tuổi tôi đã học đàn mandoline, 15 tuổi học guitar. Thấy một thằng Sơn Đông mãi võ nghèo xác xơ nhưng chú tâm học hỏi, thầy thương, miễn học phí rồi cho cả cây đàn. Năm 20 tuổi, tôi viết bản nhạc đầu tiên Ước vọng tương phùng, năm sau ra ấn phẩm đầu tiên là Đừng hỏi vì sao tôi buồn.

- Anh có thể nói về hoàn cảnh ra đời ca khúc "Giọng ca dĩ vãng"? Nhạc sĩ Bảo Thu lúc sáng tác "Giọng ca dĩ vãng"

- Dạo đó, cô ấy sinh hoạt trong Ban văn nghệ thiếu nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức. Tôi thỉnh thoảng cũng đến tham gia sinh hoạt và phụ thầy Đức dạy nhạc cho nhóm. Rồi vì nhà ở gần nhau nên tôi thường đến nhà cô ấy dạy nhạc thêm. Tình cảm giữa hai đứa nảy sinh, nhưng chưa đi đến đâu thì cô ấy cho hay là gia đình đã đính hôn cho cô từ trước. Tôi bị sốc, bèn viết: "Ngày xưa, mỗi lần em buông tiếng hát, thì anh tay phím nắn nót cung đàn. Từng nhịp nhặt khoan anh ru hồn theo tiếng tơ, nhẹ dìu lời ca em thăng trầm theo từng lúc... Cung lỡ dây chùng, mấy ai đàn đừng sai". Sau khi chia tay, chỉ 1-2 năm sau cô ấy trở thành ca sĩ nổi tiếng. Dẫu vậy, đến năm 1970 vẫn chưa thấy cô ấy lấy chồng.

- Thế còn bà xã anh hiện nay?

- Cô ấy là ca sĩ Thanh Tâm. Thanh Tâm cũng là học trò của tôi trong những năm 1969-1970, nhưng đến năm 1973 thì trò hết hát, thầy hết dạy vì phải cùng... chuẩn bị cho đứa con đầu lòng.

- Công việc hiện nay của anh như thế nào?

- Sản xuất, thực hiện các chương trình video cải lương. Đạo diễn các video clip ca nhạc... Bận rộn lắm. Tôi vừa đi vào vùng rốn lũ ở Tân Hồng, Đồng Tháp để làm phim ca nhạc.


Nguồn: Thanh Niên, 2002





Giọng Ca Dĩ Vãng

Ngày xưa mỗi lần em buông tiếng hát,
Thì anh tay phiếm nắn nót cung đàn.
Từng nhịp nhặt khoan anh ru hồn theo tiếng tơ
Nhẹ dìu lời ca em thăng trầm theo từng lúc
Và rồi hờn yêu em khi nào em hát sai
Em nũng nịu cười nói sai là tại anh.

Nhưng em nuôi mộng ước về tương lai,
Hoa mai giăng ngập nẻo đường em đi.
Rồi em đành chối tiếng giao hoà.
Từ ly là tiếng thét đau lòng sầu đơn lối.
Ai đang xây lập gác vàng cao sang.
Ai đem cung nhạc tiếng đàn gieo hoang.
Lời ca ngày đó đã xa rồi.
Mà ai còn chuốt mãi cung đàn vọng về tim.

Giờ đây mỗi lần em buông tiếng hát,
Thì ai thay thế nắn phím cung đàn.
Từng nhịp nhặt khoan ai sẽ dìu theo tiếng em
Và lời hờn yêu không còn như ngày trước,
Và rồi tại ai trong mỗi lần em hát sai,
Cung lỡ dây chùng mấy ai đàn đừng sai.




Nhạc sĩ Bảo Thu: “Cung lỡ dây chùng, mấy ai đàn đừng sai?!”


(CATP) “Ngày xưa, mỗi lần em buông tiếng hát, Thì anh, tay phím nắn nót cung đàn, Từng nhịp nhặt khoan anh ru hồn theo tiếng tơ...”, tình khúc Giọng ca dĩ vãng rất đỗi quen thuộc với công chúng yêu nhạc suốt gần nửa thế kỷ qua; sau 43 năm, tác giả - nhạc sĩ Bảo Thu bồi hồi nhớ lại...

Nghệ danh Bảo Thu có từ năm 1964, lúc đó tôi tròn 20 tuổi, mượn tên của các cô bạn gái Bích Bảo, Thanh Thu ở Đà Lạt và Xuân Thu ở Sài Gòn ghép lại. 8 tuổi, học mandoline với thầy Văn Thủy, học guitar với nhạc sĩ Lâm Tuyền, năm 1959 - 1960 diễn ảo thuật cho ban nhạc Lâm Tuyền cùng Nguyễn Ánh 9, Duy Khiêm, Phùng Trọng... Tôi may mắn được thọ giáo ngón đàn guitar của giáo sư - nhạc sĩ Hoàng Bửu (bậc thầy về guitar flamenco). Sáng tác đầu tiên của tôi là ca khúc Ước vọng tương phùng (1964).

Giọng ca dĩ vãng tôi viết năm 1965, bắt nguồn từ chuyện tình buồn với cô học trò tên P.H.T, kém tôi 6 tuổi. Dạo ấy, P.H.T sinh hoạt trong ban văn nghệ thiếu nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức, tôi dạy ảo thuật nhưng thỉnh thoảng cũng đến tham gia sinh hoạt và phụ thầy Đức dạy nhạc lý, nên tôi và T. quen nhau. Sau đó tôi mở lớp nhạc tại nhà riêng trên đường Trần Hưng Đạo, trong thời gian này tôi thường đến nhà T. dạy hát và giới thiệu T. diễn ở một số phòng trà tại Sài Gòn. Khi T. đã có tên tuổi trong làng nhạc qua ca khúc Ước vọng tương phùng thì chúng tôi nảy sinh tình cảm. Trớ trêu thay, T. báo tôi biết là gia đình đã đính hôn cho cô từ lâu rồi! Cả hai chia tay. Trong nỗi tuyệt vọng và nhớ thương hình bóng người xưa, tôi đã sáng tác Giọng ca dĩ vãng, tái hiện hình ảnh “anh đàn em hát” ngày nào nay đã trở thành dĩ vãng nhạt nhòa.

Giao Linh là ca sĩ đầu tiên thể hiện Giọng ca dĩ vãng, bài hát đưa tên tuổi chị thăng hoa sau khi thu âm ở hãng đĩa Sơn Ca, sau đó đến Thanh Tuyền, Thái Châu cũng rất thành công với bài hát này. Cũng xin lưu ý một số ca sĩ thường hát sai các ca từ trong Giọng ca dĩ vãng: xây lập chứ không phải xây mộng; chối tiếng giao hòa mới đúng, gieo hòa là trật; tiếng thét đau lòng sầu đơn lối chứ không phải tiếng hát đau lòng sầu muôn lối...

Nhạc sĩ Bảo Thu tên thật là Nguyễn Trung Khuyến, SN 1944 tại Sài Gòn (gốc Cần Thơ). Ông còn có những tác phẩm nổi tiếng khác như: Cho tôi được một lần, Đừng hỏi vì sao tôi buồn, Nếu xuân này vắng anh, Hoa sầu đông, Vọng cố nhân, Một lời cho em... Ngoài sáng tác nhạc, ông còn là nhà ảo thuật nổi tiếng: Giáo sư đại biểu ảo thuật (1964), giám khảo Liên hoan Ảo thuật phía Nam - TPHCM (1977), giám khảo Liên hoan Ảo thuật toàn quốc - Hà Nội (2008), hội viên Hội Nghệ sĩ Ảo thuật Pháp, hội viên Liên đoàn Nghệ sĩ Ảo thuật quốc tế... Nhạc sĩ Bảo Thu hiện là Giám đốc Công ty văn hóa - văn nghệ ca và hát (Tôn Thất Thuyết, P15Q4, TPHCM).

NGỌC THIỆN (ghi)

(in reply to anhthoa)
Post #: 160
Page:   <<   < prev  6 7 [8] 9 10   next >   >>
All Forums >> [Thúy Nga Female Singers] >> Hoàng Oanh >> RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nhiều ca khúc Page: <<   < prev  6 7 [8] 9 10   next >   >>
Jump to:





New Messages No New Messages
Hot Topic w/ New Messages Hot Topic w/o New Messages
Locked w/ New Messages Locked w/o New Messages
 Post New Thread
 Reply to Message
 Post New Poll
 Submit Vote
 Delete My Own Post
 Delete My Own Thread
 Rate Posts




Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode