Thúy Nga Forum
 
 
 

RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nhiều ca khúc

 
View related threads: (in this forum | in all forums)

Logged in as: Guest
Users viewing this topic: none
  Printable Version
All Forums >> [Thúy Nga Female Singers] >> Hoàng Oanh >> RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nhiều ca khúc Page: <<   < prev  4 5 6 7 [8]
Login
Message << Older Topic   Newer Topic >>
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 10/18/2009 4:17:32 PM   
Tamnguyen

 

Posts: 370
Joined: 4/5/2008
Status: offline
Cam on rat nhieu .

(in reply to anhthoa)
Post #: 141
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 10/20/2009 8:52:55 PM   
nguoiyeunhac

 

Posts: 110
Joined: 6/1/2006
Status: offline
Cam on nhieu lam, Anhthoa co bai moi goi them.

(in reply to anhthoa)
Post #: 142
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 10/25/2009 8:03:05 PM   
anhthoa

 

Posts: 3389
Joined: 6/1/2006
Status: offline
10 Nữ Ca Sĩ Có Sức Ảnh Hưởng Nhất Việt Nam

1. Thái Thanh


Thái Thanh “ Một ca sĩ của dân tộc ”. Thái Thanh “ Một tiếng hát dâng hiến tâm tình ” Thái Thanh đã hát cho bao nhiêu thế hệ chúng ta, từ đầu thập niên 50, khi mới 17 tuổi, từ Bắc vào Nam, hơn 20 năm với quê hương chinh chiến.

Tên tuổi Thái Thanh trở nên lẫy lừng từ thập niên 1950 cho đến những ngày cuối của miền Nam Việt Nam. Tiếng hát của bà ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh cũng như truyền hình. Cùng với Thái Hằng, Hoài Bắc, Hoài Trung, Phạm Duy, Khánh Ngọc (vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương) lập nên ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng.

Với 1 giọng ca trong trẻo, cao vút cùng một cách hát và nhả chữ không thể nhầm lẫn, tiếng hát Thái Thanh đã sống cùng trái tim yêu nhạc của bao người qua nhiều thế hệ. Tên tuổi Thái Thanh gắn liền với âm nhạc Phạm Duy & Phạm Đình Chương cùng những ca khúc sống mãi với thời gian: Ngày xưa Hoàng Thị, Đôi Mắt Người Sơn Tây, Dòng Sông Xanh, Nửa Hồn Thương Đau….


2. Khánh Ly


Nhắc đến âm nhạc Trịnh Công Sơn, người ta nhớ ngay đến tiếng hát Khánh Ly. Nghe nhạc Trịnh với giọng ca của Khánh Ly để suy ngẫm về cuộc đời, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của âm nhạc, để thông cảm với một tâm hồn... quá hay, quá đẹp.

Tiếng hát Khánh Ly và nhạc Trịnh Công Sơn đã đi liền với nhau như một định mệnh. Nhạc Trịnh Công Sơn là những bài tình ca cho đất nước, cho dân tộc, và cho tình yêu. Bằng tiếng hát Khánh Ly, và có lẽ chỉ bằng tiếng hát Khánh Ly, những bài hát của Trịnh Công Sơn đã thấm sâu vào tâm hồn mọi người Việt Nam. Ðã mấy chục năm trôi qua từ ngày cô bé Khánh Ly đi chân đất, hát trước hàng ngàn sinh viên Việt Nam và gây xúc động mạnh mẽ với một thứ âm nhạc lạ kỳ. Ngày nay, nhạc Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly đã trở thành một phần của tâm hồn người Việt chúng ta.


3. Lệ Thu


Lệ Thu, một cái tên tiền định hát bằng nước mắt đau thương, bàng bạc như tơ sương của khung trời mùa Thu đất Bắc, như một lời giới thiệu mở đầu … tèng teng teng…Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống, đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông,... Rồi một buổi trưa hè nào đó bên nhà hàng xóm văng vẳng xa vắng Gọi Nắng trên vai em gầy đường xa áo bay,…Chỉ một mỹ từ duy nhất để diễn tả về Lệ Thu thôi “Đẹp”, Lệ Thu là một tiếng hát Đẹp. Thưởng thức tiếng hát Lệ Thu như là thuởng thức một Dung Nhan đẹp đẽ và rắn rỏi.

Ở Lệ Thu, cái đẹp còn ở lối phát âm tiếng Việt khi hát. Nghĩ đến Lệ Thu là mường tượng ngay ra được Vẻ đẹp của tiếng Việt, Nhẹ nhàng, Uyển chuyển và rất tròn vành rõ chữ.


4. Bạch Yến


Với 50 năm góp mặt trong lãnh vực nghệ thuật, Bạch Yến rất xứng đáng được coi là một nữ nghệ sĩ có quá trình hoạt động lâu dài nhất cho đến ngày hôm nay. Với những thăng trầm trong cuộc sống cũng như trong nghề nghiệp, tên tuổi của chị vẫn là một tên tuổi lớn trong việc giới thiệu nền văn hoá Việt Nam với khán giả năm châu qua nhạc dân ca cổ truyền hiện nay cũng như từng góp mặt trong giới "show business" tại Hoa Kỳ trong một thời gian dài.

Giọng hát trầm đặc biệt đó cũng đã trở nên quen thuộc với khán giả Việt Nam từ rất nhiều nãm qua, mặc dù âm sắc rất trầm nhưng giọng hát chị thuộc loại "mezzo soprano", đã góp phần không ít trong việc tạo cho nhạc phẩm "Ðêm Ðông" trở thành bất hủ.


5. Hoàng Oanh


Tiếng hát mật ngọt Hoàng Oanh trải qua nhiều năm tháng, không thể lẫn lộn với bất cứ giọng ca nào. Nó đi sâu vào lòng người, ngất ngây như uống phải thứ men say và gợi nhớ muôn trùng một vùng trời kỷ niệm, đầy ắp thương yêu. Hoàng Oanh là một tài năng đa diện. Với một làn hơi ngọt ngào, nồng nàn tình cảm, Hoàng Oanh đã có khả năng trình bày tất cả các loại nhạc cũng như lối ngâm. Từ những nét sang trọng, dịu dàng, quý phái của nhạc tiền chiến đến những bản dân ca ba miền, những bài tình tứ quê hương, từ những câu Hò mái đẩy miền Trung đến bài vọng cổ miền Nam hay câu Sa mạc, hát ví của miền Bắc…

Tiếng hát cũng như giọng ngâm của Hoàng Oanh có chút gì thật sâu đậm, buồn man mác nhưng thật tình tứ, đã chinh phục được đa số thính giả.


6. Hà Thanh


Có một loài chim khi cất tiếng hót thánh thót vang vọng giữa trời mây sông nước, không gian như lắng đọng để hoà nhập trong âm điệu du dương: Hoàng Oanh. Mang âm hưởng đó, có tiếng ca ngọt ngào, truyền cảm như làn gió nhẹ, như tiếng reo của thuỳ dương, như tơ vương giăng mắc, như sương khói lững lờ, như lời tình tự giữa trăng thanh, như ru ta vào cõi mộng mơ, dìu ta lạc bước vào đất thần kinh với hoàng thành cung điện, với đền đài lăng tẩm, với sông nước hữu tình, với nhạc điệu trầm bỗng, thướt tha: Hà Thanh.

Tên tuổi Hà Thanh đã được giới yêu thích âm nhạc ái mộ với làn hơi trong sáng, êm ái, ngọt ngào, cao sang, mượt mà, bóng bẩy, tình tự quê hương, có nét độc đáo trong âm điệu đất thần kinh. Tuy yêu nghề nhưng chưa dấn thân vào nghiệp, Hà Thanh vẫn tiếp tục con đường học vấn, chỉ hát ở Huế nhưng những ca khúc được trình bày đã vang xa khắp bốn phương trời qua lán sóng phát thanh của Đài phát thanh Huế, đánh dấu sự chờ đợi, hẹn hò của các trung tâm phát hành đĩa nhạc ở Thủ đô Sài Gòn.


7. Phương Dung


Cô nổi tiếng năm 17 tuổi sau khi trình bày thành công bài hát "Nỗi buồn gác trọ" của Mạnh Phát và Hoài Linh vào năm 1962, sau đó tiếng hát của cô đã đi vào lòng người với bài hát "Những đồi hoa sim" năm 1964, Dzũng Chinh phổ thơ của nhà thơ Hữu Loan. Năm 1965, với bài hát "Tạ từ trong đêm" của nhạc sĩ Nhật Trường - Trần Thiện Thanh, Phương Dung đã nhận được giải huy chương vàng giành cho nữ ca sĩ trong năm, và người nhạc sĩ của bài hát được giải Bài hát xuất sắc nhất trong năm.

Tên tuổi Phương Dung được chắp cánh thêm với mỹ danh "Con Nhạn Trắng Gò Công" mà thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà tặng cho cô. Từ đấy con nhạn trắng Phương Dung bay không mệt mõi trong vùng trời âm nhạc. Hiện nay tuy đã có tuổi nhưng giọng ca của Phương Dung vẫn không phai dần theo năm tháng, vẫn còn đó lối hát tâm tình, cứ như trăn trở về một dĩ vãng ngày xưa. Tiếng hát Phương Dung ngọt ngào mà chơn chất như người con gái Gò Công, luôn được khán thính giả yêu mến tới nay.


8. Bích Chiêu


Là người chị cả trong gia đình nhạc sĩ trứ danh Lữ Liên gồm có các danh ca nổi tiếng khác: Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Lưu Bích, Lan Anh & Thúy Anh.

Bích Chiêu: Cô không đẹp nhưng có duyên. Cô có hàm răng vẩu và lưỡng quyền hơi cao. Nhưng vẻ thông minh tinh quái chiếu sáng chan hòa khuôn mặt cô. Đã vậy, cô rất hồn nhiên, không che đậy khuyết điểm của mình. Thân hình của Bích Chiêu khá nồng nàn và khá cân đối. Đã vậy cô biết hóa trang và ăn mặt nên trên sân khấu cô có nét gợi cảm và thu hút riêng. Giọng Bích Chiêu phong phú và hơi khàn. Chuỗi ngân cô rập rờn và óng ả.

Bích Chiêu hát rất trội, rất ngậm ngùi những ca khúc tình ái như “You Don’t Know Me” hay “I Went To Your Wedding” dễ làm say lòng người. Tôi còn nhớ Nguyên Sa có câu thơ “trải dài đại lộ bằng tiếng hát Bích Chiêu”. Bích Chiêu vẫn là thần tượng lộng lẫy của giới trẻ vào cuối thập niên 50 và 60.


9. Thanh Thúy


Trong kiếp cầm ca, tiếng hát được nhiều cây bút tên tuổi xuất thủ với ngôn từ độc đáo, tuyệt vời được dàn trải với tha nhân thưởng ngoạn, bồng bềnh theo hình bóng qua bốn thập niên của hậu bán thế kỷ XX, tiếng hát đó đã gói trọn tình khúc, vượt thời gian và không gian, đi vào ký ức, đi vào chiều dài lịch sử trong làng ca nhạc Việt Nam: Thanh Thuý.

Thanh Thúy qua ca khúc trữ tình, lãng mạn của nhiều nhạc sĩ tài danh được mô tả bằng tiếng hát lơ lửng với khói sương, nhấp nhô cùng sóng nước, đam mê theo cung bậc, thì thầm với kẻ tình si, du dương trong tĩnh lặng, vỗ về với yêu thương. Thanh Thuý: Tiếng Hát Liêu Trai, Tiếng Hát Khói Sương, Tiếng Hát Lúc Không Giờ, Tiếng Sầu Ru Khuya, Tiếng Hát Lên Trời, Tiếng Hát Khói Sương Chiêu Niệm... qua nhiều cây bút với ngôn ngữ văn chương không ngần ngại hạ bút để viết về tiếng hát.


10. Ngọc Lan


Nhắc đến các giọng hát Việt Nam hải ngoại, đặc biệt những giọng hát của các ca sĩ trẻ, mới xuất hiện ở ngoài Việt Nam sau 75, chúng ta không thể không ghi nhận giọng hát Ngọc Lan. Ngọc Lan, một giọng hát mà người thưởng ngoạn có thể tìm thấy ở đó, hoặc cả một khung trời mất mát, sầu muộn, nuối tiếc. Hoặc cả một vùng hào sáng, có tuổi xuân đang lớn, đam mê và cuồng nhiệt.

Với chất giọng ngọt ngào, trữ tình, Ngọc Lan nhanh chóng được khán giả biết đến và đã được các trung tâm mời ghi âm . Ngọc Lan đạt được đỉnh cao của tiếng tăm từ khi cộng tác với trung tâm nhạc Mây trên những chương trình Hollywood Nights .

Ngọc Lan được yêu thích qua nhiều nhạc phẩm nước ngoài lời Việt, như Mưa trên biển vắng... Cô cũng trình bày nhiều ca khúc tiếng Pháp, những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên... Cô hát ở rất nhiều thể loại nhạc và dòng nhạc, hiện nay theo một số người sưu tầm nhạc, cô đã trình bày trên 800 ca khúc và trên 40 video clip.

Sau một thời gian dài bị chứng bệnh đa thần kinh hóa sợi hành hạ, Ngọc Lan trút hơi thở cuối cùng vào hồi 8 giờ 25 sáng ngày 6 tháng 3 năm 2001 tại bệnh viện Vencor, Huntington Beach, Nam California.
Trích từ trang web http://www.tranquanghai.com 

(in reply to nguoiyeunhac)
Post #: 143
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 11/2/2009 7:31:07 PM   
anhthoa

 

Posts: 3389
Joined: 6/1/2006
Status: offline
ANH KHOA: với niềm hạnh phúc gia đình tại Hungary




Anh Khoa

Đúng như Anh Khoa nói qua điện thoại với tôi từ Orange County trước khi bay lên San Jose gặp tôi như đã hẹn, tôi đã thấy một Anh Khoa “rất OK và còn nhiều phong độ” sau hơn 30 năm không gặp.  Tôi còn nhớ mãi hình ảnh một Anh Khoa chưa được dạn dĩ lắm khi đến với sinh hoạt ca nhạc lần đầu tiên vào những năm cuối thập niên 60 tại vũ trường Tự  Do – khi đó do Jo Marcel khai thác - sau khi rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn Phan Thiết vào Sài Gòn gọi là để lập nghiệp.

Đó là ý tưởng của một chàng thanh niên sinh và lớn lên trong một gia đình gặp nhiều khó khăn về vật chất khi đó mới bước vào lớp tuổi 20, cho nên  “Khổ quá, con cái phải tự kiếm sống chứ sao bây giờ. Gia đình Khoa khổ lắm!  Mặc dù trong miền Nam tự do no ấm, nhưng gia đình Khoa  quá khổ. Đông con quá mà không có tiền!.”

Những lời tâm sự chân tình của Anh Khoa chắc chắn sẽ khiến nhiều người muốn tìm hiểu sâu xa hơn về cuộc đời của một nam ca sĩ một thời danh tiếng, nay đang lưu lạc ở giữa thủ đô Budapest của Hungary...

Trần Công Khai là tên thật của Anh Khoa.  Anh sinh tại Phan Thiết năm 1948 trong một gia đình có 12 người con.  Số lượng con cái đông đảo đó đến từ cuộc hôn nhân của thân phụ anh với hai chị em ruột. Anh Khoa là người con thứ 4 của người vợ cả, qua đời vào năm 1984.

Người vợ  sau, tức dì ruột của anh cũng đã vĩnh viễn ra đi khi chưa được đầy 30 tuổi. Nếu thân phụ anh tiếp tục đi theo nghề thợ bạc  gia truyền của gia đình và thân mẫu anh không gặp cảnh buốn bán ế ẩm thì gia đình anh không đến nỗi lâm vào cảnh sa sút.

Tại Phan Thiết, Anh Khoa theo học trường trung học Bồ Đề và trường trung học phổ thông Phan Chu Trinh. Trong khi đó anh lại tỏ ra có năng khiếu về ca hát. Nhờ vậy vào năm 1962, anh đã đoạt giải thi đua Văn Nghệ Ấp Chiến Lược Toàn Quốc với nhạc phẩm “Biệt Kinh Kỳ”! 

Thôi thúc bởi sự quyến rũ của âm nhạc, Anh Khoa dành dụm tiền để mua sách về tự học vì gia đình quá nghèo không có phương tiện cho anh theo học  nhạc tại các lớp tư. Tuy vậy anh cũng đã khẩn khoản mẹ sắm cho được  một cây bass guitar. 

Anh mong ước một ngày nào đó được gia nhập vào những ban nhạc trẻ khi phong trào này đang bắt đầu lên cao với những nhạc phẩm của The Beatles khiến cậu thanh niên Trần Công Khai mê mẩn. Anh đã năn nỉ mẹ để có được một cây đàn guitar sau khi mẹ anh phải vất vả đầu này, đầu kia để vay một số tiền.

Cầm được cây đàn trong tay, Anh Khoa không còn cảm thấy niềm vui sướng nào to lớn hơn để cả ngày ôm ấp cây đàn điện thô sơ nhưng rất quí giá đối với tình cảnh cực khổ của gia đình. Niềm vui đó khiến anh lơ là việc học vấn để theo chân bạn bè suốt ngày nghêu ngao đàn ca hát xướng.




Vợ và con gái của Anh Khoa


Cuối cùng giấc mộng của anh cũng như của nhiều thanh thiếu niên thời đó là được chơi đàn chung với một ban nhạc trẻ được thành hình khi cùng các bạn trong tỉnh thành lập ban nhạc lấy tên là The Sea Bees.  Nhưng sự tồn tại của “Những Con Ong Biển” thật quá phù du nên giấc mộng của Anh Khoa cũng sớm tàn lụi theo.

Thời gian này Anh Khoa mới chỉ theo học hết bậc trung  học đệ nhất cấp. Nhưng vì tình trạng túng quẫn của gia đình, anh đã quyết định một thân một mình  vào Sài Gòn với mục đích tìm được một ban nhạc để hợp tác.

Nhạc trẻ tỏ ra đã có một khả năng lôi cuốn anh lạ kỳ mặc dù thật sự khả năng của anh chưa được là bao nên chưa thể gọi là một tay đàn hay giọng hát chuyên nghiệp. Ban nhạc có tên Les Milans là ban nhạc Anh Khoa có dịp hợp tác tại Sài Gòn  trong một thời gian ngắn. Con đường anh dự định theo đuổi hình như không được mấy êm đẹp để rồi anh lại quay về Phan Thiết.

Một lần nữa, Anh Khoa lại lên đường “đi bụi” ngoài Nha Trang qua sự giới thiệu của một người bạn.  Tại đây anh gia nhập một ban nhạc trẻ chơi cho các clubs Mỹ, mặc dù vốn liếng Anh Văn còn rất lõm bõm cũng như  tài nghệ sử dụng đàn bass guitar mới chỉ ở mức sơ đẳng. Tuy nhiên vào thời nàý, khi quân đội Mỹ ồ ạt đổ vàoViệt nam, số ban nhạc trẻ có một tài nghệ tương đối vững vàng còn rất hiếm hoi so với nhu cầu rất lớn. Nhờ vậy, Anh Khoa đã có được một dịp may nên có đồng ra đồng vào trong một thời gian.

Nhưng cũng chỉ được chưa đầy một năm, anh lại quay trở về Phan Thiết cố gắng theo học hết bậc trung học đệ nhị cấp, nhưng không lấy được mảnh bằng tú tài 2, như người anh cả trong gia đình.  Đó cũng là người được coi như có trình độ học vấn tới nơi tới chốn nhất. Trong khi tất cả những anh chị em khác của anh chỉ qua được những năm đầu của trung học.

Chán nản với việc học vấn, buồn bã cho tình trạng nghèo khó của gia đình, Anh Khoa một mình lang thang ra Sông Mao, cách Phan Thiết khoảng 50 cây số để nhờ những thông dịch viên quen biết xin vào đàn hát cho những clubs Mỹ ở đây, luôn cần những phương tiện giải trí. Nhưng rồi sự hợp tác đó không được lâu dài để do sự thôi thúc của định mệnh, Anh Khoa quyết định vào luôn Sài Gòn với mục đích lập nghiệp vào năm 69.

Anh được các quân nhân Mỹ cho đi nhờ một chuyến máy bay vào Sài Gòn để mong gặp lại được những bạn bè cũ trong ban nhạc Les Milans ngày nào. Lần này thì may mắn đến với anh khi được một tay đàn trong ban nhạc này giới thiệu sử dụng bass guitar cho một ban nhạc chơi cho các clubs mỹ ở Tân Bình.

Cũng trong năm 1969, một lần nhạc sĩ piano Võ Đức Xuân trong ban nhạc của Jo Marcel tại vũ trường Tự Do được mời thay thế cho một nhạc sĩ vắng mặt trong ban nhạc có Khoa cộng tác.  Võ Đức Xuân tỏ ra có cảm tình với Anh Khoa nên đã mời anh về sử dụng bass cho ban nhạc Jo Marcel, lúc đó đang thiếu người sử dụng nhạc khí này.  Anh Khoa được thu nhận ngay để  bắt đầu gây được chú ý tại vũ trường Tự  Do qua hình ảnh của một người nghệ sĩ vừa đánh bass, vừa hát với một giọng ca truyền cảm.

Khi cùng theo Jo Marcel về  tầng dưới vũ trường Queen Bee với ban nhạc có tên Mây Bốn Phương thì tên tuổi Anh Khoa khởi đầu cho một giai đoạn mới, trình diễn chung với những ca sĩ nổi danh như Carol Kim, Ngọc Mỹ, Như An, vv... Nhưng phải đợi đến khi anh được Jo Marcel đưa lên hát ở tầng trên của Queen Bee trong chương trình của Lệ Thu do anh khai thác, thật sự Anh Khoa mới tạo được nhiều cảm tình nơi khán giả trong những ca khúc của Vũ Thành An.

Tình cờ trong dịp Anh Khoa được mời lên lầu trên Queen Bee thay thế cho một ca sĩ vắng mặt lại có sự hiện diện của nhạc sĩ họ Vũ, là người đã lên tiếng khen ngợi giọng hát của anh trong nhạc phẩm “Bài Không Tên Số 3” cùng với những tiếng vỗ tay nhiệt liệt của khán giả. Từ đấy, Anh Khoa chú trọng nhiều vào những sáng tác của Vũ Thành An  đặc biệt là những “Bài Không Tên”. Và anh đã trở thành một trong vài nam ca sĩ trình bày thành công nhất những sáng tác của người nhạc sĩ nay đã trở thành một vị Phó Tế. 

Không những chỉ hát nhạc Việt Nam, Anh Khoa vẫn còn mang một tâm hồn rất nhạc trẻ nên cũng được giới trẻ dành cho nhiều cảm tình trong những lần xuất hiện trong những chương trình “Hippies À Go Go” do người viết tổ chức tại Queen Bee và sau là vũ trường Ritz. Thời kỳ này Aquarius/ Let The Sunshine In, Young Girl, Woman và Hey Jude là những nhạc phẩm thường được Anh Khoa trình bầy.

Đến năm 70, Anh Khoa theo Jo qua vũ trường Ritz và bắt đầu thu băng cho những chương trình nhạc do Jo Marcel  thực hiện và hát hầu như trên tất cả băng nhạc của những chương trình này.  Sau đó anh còn được nhiều trung tâm nhạc khác mời thu thanh cùng một lúc.

Bắt đầu xuất hiện nhiều trên TV và những chương trình phát thanh không quân là binh chủng Jo Marcel đã đưa anh vào công tác tại Bộ Tư  Lệnh thuộc ban Tâm Lý Chiến. Khi chương trình ca nhạc hàng đêm do Jo Marcel thực hiện chuyển qua vũ trường Maxim’s vào năm 1972, với vai trò một nam ca sĩ nòng cốt nên Anh Khoa cũng được mời  về theo, cho đến người anh coi như  một người anh lớn là Jo Marcel ngưng cộng tác với vũ trường này.

Anh Khoa đang trong thời kỳ tên tuổi lên cao nên đã được hầu hết các vũ trường lớn ở Sài Gòn mời đón, trong số có phòng trà Khánh Ly trên đường Tự Do, cho đến khi xẩy ra biến cố tháng 4 năm 75.  Anh Khoa cho biết đã không rời khỏi Sài Gòn trong giai đoạn này vì là người ít bạn bè nên không được cập nhật thông tin về những chuyến đi...

Anh Khoa rơi vào tình trạng chán chường và tuyệt vọng khi trước mắt là một tươmg lai vô định. Đang mang tâm trạng đó, anh được thu nhận vào một đoàn hát nhỏ của nghệ sĩ Ngọc Giao đi hát ở một số tỉnh miền Trung trong một tình trạng rất bấp bênh.

Một thời gian sau vào khoảng năm 77, 78, anh được gia nhập ban kịch Thẩm Thúy Hằng cùng với Băng Châu, Thảo Ly, Hoàng Hạc, vv... trong phần phụ diễn tân nhạc.

Sau hơn 1 năm, Anh Khoa bắt đầu ra hát tại các tụ điểm, các câu lạc bộ văn hóa, vv... ở Sài Gòn và được biết đến nhiều qua những nhạc phẩm của nhạc sĩ Trần Tiến: Thành Phố Trẻ, Mặt Trời Bé  Con, Vết Chân Tròn Trên Cát, vv...

Tuy tỏ ra sinh hoạt đều đặn, nhưng ý tưởng vượt biên lúc nào cũng ở trong tâm trí anh. Nhưng tất cả những chuyến vượt biển sau đó của Anh Khoa đều thất bại.  Sau vài lần bị giam giữ, Anh Khoa lại tiếp tục sinh hoạt ca hát trong những năm kế tiếp, với nơi cộng tác cuối cùng là phòng trà Maxim’s trong thời gian các phòng trà và vũ trường được phép hoạt động.




Cô con gái Diana 13 tuổi của Anh Khoa với chiếc nón lá


Vào cuối năm 1988,  một thiếu nữ người Hung Gia Lợi theo bố mẹ - lúc đó thân phụ cô là đại sứ  Hung tại Kăm Pu Chia- lên Maxim’s nghe nhạc và đã để ý ngay đến Anh Khoa để sau đó cùng với bố mẹ gần như đều tới đây nghe anh hát hàng tuần.

Cô thiếu nữ có tên Iren Karsai ngỏ ý muốn làm quen với Anh Khoa qua một  nữ nhân viên của phòng trà. Cô này kể cho Phương Hồng Quế biết để sau đó chính  Phương Hồng Quế là người đứng  ra sắp xếp những lần gặp gỡ cho Anh Khoa và Iren, khi đó mới ngoài 20.

Với khả năng nói được 4 ngôn ngữ  Hung, Nga, Pháp và Anh của Iren, khi đó đã tốt nghiệp đại học ở Nga -  nên vấn đề trao đổi giữa hai người không gặp mấy trở ngại qua trung gian của Anh Ngữ.

Quyết định đi đến hôn nhân của Anh Khoa với  người vợ Hung Gia Lợi có mẹ là người Nga đã gây nhiều bất ngờ trong giớii nghệ sĩ  sau khi tiệc thành hôn được tổ chức trong vòng thân mật tại nhà hàng Majestic vào tháng 8 năm 1989. Sau đó Anh Khoa cùng với vợ qua sống tại Hungary...

Những ngày đầu tiên ở Budapest  cảm thấy rất buồn khi sống giữa một nơi hoàn toàn xa lạ tại Đông Âu... Nhưng một thời gian sau anh may mắn kiếm được việc làm hợp với khả năng của mình  cho một công ty biểu diễn bản xứ.  Để đi hát trên khắp nước Hung.

Vào năm 1991, Anh Khoa được trung tâm Thúy Nga mời cộng tác để xuất hiện lần đầu tiên trên chúuơng trình  Paris By Night 15 với nhạc phẩm “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa”.  Sau 15 chương trình Paris By Night, sự hợp tác giữa Anh Khoa và trung tâm Thúy Nga đã đi đến kết thúc.
Tuy không có được môi trường thuận tiện cho những sinh hoạt nghề nghiệp của mình là ca hát, nhưng bù lại Anh Khoa đã có được một cuộc sống thật êm đềm và hạnh phúc bên cạnh người vợ hiền thục và cô con gái ngoan tên Diana, năm nay 13 tuổi.

Anh Khoa tâm sự hiện nay anh chỉ dồn tất cả sinh hoạt của mình cho gia đình, trong khi chấp nhận tình trạng lắng đọng trong những sinh hoạt văn nghệ, ngoài những lần bay qua California hoạt động trong giới nghệ sĩ tại đây: “Sống bên đó cũng chỉ vì gia đình thôi.  Giữa 2 cái Khoa phải chọn một. Một bên là việc làm, một bên là gia đình.  Nhưng việc làm thì Khoa chạy qua chạy lại được, dễ dàng thôi.  Dầu sao mình cũng cần có  hậu phương là gia đình của mình chớ! Khoa qua Mỹ thấy cuiộc sống chưa chắc đã bằng Khoa bên Hung”.
 
Và cũng chính vậy, Anh Khoa cảm thấy thoải mái hơn bên cạnh vợ con, gần bên dòng sông Danube êm đềm ở Budapest.

Trong lần cùng vợ con sang California vào tháng 8 năm 2005 vừa qua, Anh Khoa đã hoàn tất CD mới nhất của mình là “Khúc Thụy Du” dưới nhãn hiệu Anh Khoa Production. Và trong nay mai, khán  thính giả khắp nơi sẽ có dịp gặp gỡ người nam ca sĩ có giọng hát  luôn phảng phất nét buồn này qua chương trình video “75 Năm Âm Nhạc Việt Nam” do trung tâm Asia phát hành...

(TVTS – 1020)

(in reply to anhthoa)
Post #: 144
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 11/2/2009 7:42:02 PM   
nhakhue2001

 

Posts: 68
Joined: 6/1/2006
From: Wesminster CA USA
Status: offline
Con gai cua Anh Khoa dep va de thuong qua.

(in reply to anhthoa)
Post #: 145
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 11/9/2009 11:39:56 PM   
anhchangdeghet

 

Posts: 296
Joined: 6/1/2006
Status: offline
dep giong giong Phi Nhung

(in reply to nhakhue2001)
Post #: 146
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 11/13/2009 4:42:32 PM   
anhthoa

 

Posts: 3389
Joined: 6/1/2006
Status: offline
LỮ LIÊN và lịch sử ban tam ca AVT




Nhạc sĩ Lữ Liên


Không cần phải giới thiệu dài dòng, chắc chắn mọi người đều biết AVT là tên của một ban tam ca trào phúng đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam với tính chất châm biếm và hài hước, nhiều khi xen lẫn với một sự mỉa mai của nó.
 
AVT đã trở thành một tên tuổi thật gần gũi với mọi người bằng những nhạc phẩm lột tả được hết mọi khía cạnh của cuộc sống hằng ngàytrong nhiều hoàn cảnh khác biệt của xã hội. Những lời ca dí dỏm trong những nhạc phẩm do AVT trình bầy đã mang lại niềm vui cho mọi người từ suốt gần 50 năm qua đã đóng góp khá nhiều vào kho tàng văn hóa dân gian cũng như đã trở thành một lọai văn chương truyền khẩu rất phổ thông.

Nhắc đến AVT, chắc chắn phải nhắc đến người được coi là linh hồn của ban tam ca này là nhạc sĩ  lão thành Lữ Liên, vào năm 2008 này đã được 91 tuổi. Ông  hiện cư ngụ tại Orange County trong một căn mobile home mà người viết đã  có dịp tiếp xúc gần đây.  Ngoài ra, trước đó thỉnh thoảng tôi vẫn có dịp gặp gỡ ông trong những dịp thu ông hình video cho trung tâm Asia cách đây khoảng 10 năm để nghe ông kể về nguồn gốc và sự hình thành của ban tam ca AVT. 

Không những thế cách đây 15 năm, ông đã tự tay soạn một bài viết về nội dung nói trên cho tôi làm tài liệu.  Căn cứ vào những dữ kiện có được cũng như  một số chi tiết góp nhặt được qua những lần gặp gỡ nhạc sĩ Lữ Liên, bài viết này mong sẽ cung cấp cho bạn đọc những điều xác thực về lịch sử ban tam ca AVT cùng với người được coi là linh hồn của nó là nhạc sĩ Lữ Liên. 

Thêm vào đó, bài viết này cũng còn được dựa trên tài liệu của một số nhân vật có thẩm quyền khác đối với sự hình thành của ban tam ca trào phúng độc đáo này. Trung tá Phạm Hậu tức nhà thơ Nhất Tuấn là một người trong số này. Ông nguyên là giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh VNCH vào năm 1971 và là Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xã vào năm 1974. Trước đó ông tùng là người một thời gian chỉ huy Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương tức tiền thân của của Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương là nơi xuất phát ra ban tam ca AVT và rất nhiều nghệ sĩ tên tuổi khác. 

Ông cũng từng giữ một chức vụ cao của Đài Phát Thanh Quân Đội là nơi nhạc sĩ Lữ Liên vào năm 1957 sau khi được đồng hóa vào quân đội đã phục vụ trong ban biên tập, để rồi sau đó được biệt phái sang tiểu đoàn 1 Chiến Tranh Chính Trị để bổ xung vào ngành kịch nghệ sân khấu trong việc yểm trợ cho các binh sĩ khắp 4 vùng chiến thuật trước khi trở thành trưởng ban AVT.

Trong thời gian là diễn viên kịch nghệ trong ban kịch của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, ông vẫn chú tâm nghiên cứu về cổ nhạc thuần túy của 3 miền đất nước để sáng tác thành những bài ca trào phúng để có thể  trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp tự đàn lấy để trình diễn. Đó là điều ông ước vọng từ lâu.

Năm 1958, trong danh sách công tác của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Chính Trị có một ban tam ca do 3 anh tân binh mới nhập ngũ tên Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên trình bầy những bản nhạc vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT để đặt tên ban. Người đứng ra thành lập ban AVT chính là nhạc sĩ Anh Linh mà không phải là nhạc sĩ Lữ Liên như không ít người lầm tưởng. 

Anh Linh là một người có căn bản nhạc lý vững vàng nên từng có thời gian được cử thay thế  giáo sư  âm nhạc Phạm Nghệ làm trưởng ban Ca của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, tức Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương sau đó. Ông đã sáng tác được khoảng 20 bài, trong đó có một số bài phổ ttừ thơ của thi sĩ Hà Thượng Nhân và Nhất Tuấn (tác giả thi tập nổi tiếng trong thập niên 60 “Chuyện Chúng Minh”).

Một trong những ca khúc đắc ý nhất của ông là “Niềm Tin”, thường được nhiều ca sĩ trình bầy trong dịp Giáng Sinh. Ca khúc đầu tay của Anh Linh là bài “Sao Em Không Đi”, viết trước khi nhạc sĩ Anh Bằng, cùng trong Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Tâm Lý, tung ra nhạc phẩm “Nếu Vắng Anh”. Nhưng vì nhạc của Anh Linh có phần ủy mị nên không được bộ thông tin chấp thuận ngay.

Trái lại, “Nếu Vắng Anh” thì trót lọt kiểm duyệt vì lời ca, điệu nhạc rất tình cảm nhưng không mềm yếu. Nhạc phẩm này đã trở thành Top Hit sau đó. Bù lại, Anh Linh được an ủi là có một số bài như Chiến Thắng Rừng Sát, Thiên Thần Mũ Đỏ, Chiến Thắng Kon Tum đã được rất nhiều anh em binh sĩ tán thưởng. 







Ban Tam Ca Trào Phúng AVT đầu thập niên 60
 

Việc hình thành tên ban tam ca AVT đã được nhạc sĩ Anh Linh kể lại với những chi tiết lý thú đến từ một sự tình cờ.  Khởi thủy, ban tam ca sau này được gọi là AVT gồm có  3 người là Anh Linh, Tuấn Đăng và Vân Sơn thường được giới thiệu mỗi khi xuất hiện trên sân khấu là  Tam Ca Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng. 3 người đều hát thường trực ở phòng trà Anh Vũ với những tiết mục vui nhộn của họ. 

Một hôm, ban giám đốc thuê người kẻ một tấm biểu ngữ rất lớn để giăng ngang đường Trần Hưng Đạo, gần phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện nhằm giới thiệu bộ 3 này mà họ muốn gọi là ban Kích Động Nhạc Anh Vũ. Đúng vào lúc những người kẻ chữ vừa viết xong hai chữ AV mầu đỏ và chữ NH mầu xanh thì Anh Linh tình cờ đi tới.

Anh hỏi thì được  biết họ viết chữ ANH VŨ. Anh Linh nói ngay là ban tam ca của anh không phải tên là Anh Vũ như ban giám đốc đã thuê họ viết. Nhưng thấy mấy người thợ đã lỡ viết như vậy nên chợt nhớ ra ban kích động nhạc của mình đã có sẵn tên Anh Linh, Vân Sơn nên bảo viết thêm chữ T ( chữ đầu của tên Tuấn Đăng ) và bỏ 2 chữ  NH kia đi. Vì thế nên có tên AVT.

Trong thời gian AVT hát nhạc ngọai quốc ở phòng trà Anh Vũ, họ luôn được khán giả yếu cầu hát nhiều lần nên chủ phòng trà thêm cho AVT một danh hiệu nữa là ban AVT Đăng-Linh-Sơn khi được giới thiệu. Nhưng MC lại cố ý đọc là “AVT Darlingson” cho  khán giả ngọai quốc dễ hiểu!  

Tiền thù lao cho AVT sau đó đã phá kỷ lục khi họ được trả đến 1000 đồng một người, trong khi “cát sê” trả cho quái kiệt Trần Văn Trạch chỉ có 700! Vì AVT có lần được khán giả yêu cầu “bis” đến 7 lần. Ba người vừa vào hậu trường thay áo đi về thì lại phải mặc vào để ra trình diễn thêm trong khi khán giả giả tiếp tục hò hét vang rền! Đó thật là một kỷ niệm nhớ đời cho Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng.

Giọng ca của 3 thành viên AVT này rất đều. Họ có thể lên cao tới “nốt” Sol cao và xuống đến Sol thấp. Theo nhận xét của nhạc sĩ Lữ  Liên thì giọng của Vân Sơn trội hơn cả so với 2 người khác trong ban. Hình ảnh đặc biệt của AVT là lúc trình diễn họ đều mặc quốc phục với khăn đóng, áo dài và tự đàn lấy để hát.

Trước khi chuyển qua sử dụng những nhạc khí dân tộc thì Anh Linh chơi guitar, Vân Sơn chơi trống và Tuấn Đăng sử dụng contre-bass. Những tiết mục linh động và tươi vui của AVT thật sự đã mang lại cho sinh hoạt phòng trà thời đó thêm rất nhiều sống động.

Qua đầu thập niên 60, vào lúc AVT cần những sáng tác mới để trình bầy, nhạc sĩ Lữ Liên có ý định thử nghiệm khi muốn hướng phần trình diễn của AVT về một thể loại mới lạ. Ông đã trích một đọan trong bản Thất Nghiệp Ca của ông (sáng tác cho Đòan Văn Nghệ Vịet Nam) đặt tên là Tam Nghiệp, mô tả 3 chàng Thợ Nhuộm, Thợ Sửa Khóa và Thầy Bói  để AVT thực nghiệm vào dịp Tất Niên trong một chương trình văn nghệ do quân đội tổ chức tại rạp Tống Nhất.  Chương trình này có mục đích ủy lạo các chiến sĩ xuất sắc khắp 4 vùng chiến thuật trở về tham dự, dưới sự chủ tọa của tổng thống Ngô Đình Diệm cùng nhiều tướng lãnh cao cấp khác.

Nhưng sắp đến ngày ra mắt thì thình lình có giấy gọi Anh Linh theo học khóa sĩ quan vào năm 1962.  Lập tức Hoàng Hải được đưa vào tập dượt để thay thế.  Sau này khi Lữ Liên gia nhập AVT, nhạc phẩm Tam Nghiệp có được sửa đổi đôi chút với những nghề Thợ  Sửa Xe Máy (do Lữ Liên diễn tả), nghề Tẩm Quất với Vân Sơn  và Tuấn Đăng với nghề thợ mộc.

Với bài Tam Nghiệp gốc, một sáng tác của Lữ Liên, trích từ tác phẩm Thất Nghiệp Ca của ông,  lần đầu tiên khán giả được thưởng thức một nhạc phẩm trào phúng với những âm điệu cổ truyền cùng những  lời ca dí dỏm và nghệ thuật trình diễn sống động. Tất cả những khán giả hôm đó, phần lớn là anh em binh sĩ, được dịp cười hả hê. Nhất là lúc Vân Sơn hứng lên múa trống, tung dùi và Tuấn Đăng nhảy lên cây “Contre-basse” để solo theo nhịp kích động khiến khán giả cổ võ muốn sập rạp.

Và kể từ đó AVT bắt đầu bước vào một khúc quanh quan trọng với phần trình bầy những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội. Với sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả.  Sau thời gian này, Lữ Liên lại đặt cho AVT một số bài mới như  Ông Nội Trợ, Trắng Đen, Dậy Thì, vv... Tất cả những nhạc phẩm này đã khiến tên tuổi AVT càng này càng lên cao
Ngoài những sáng tác của nhạc sĩ Lữ Liên, nhạc sĩ Anh Bằng cũng sáng tác cho ban tam ca này một nhạc phẩm nổi tiếng khác có tựa đề là Huynh Đệ Chi Binh, thêm vào đó là một sáng tác của  Duy Nhượng là  bài Ai Lên Xe Bus...

Từ đó, ban AVT đã trở thành một tam ca nhạc đắt giátại các phòng trà ca nhạc và vũ trường cũng như các Đại Nhạc Hôi cùng các đài Phát thanh và Truyền Hình. Nói cho đúng, AVT đã trở thành một hiện tượng trong sinh họat ca nhạc tại Việt Nam với một khuynh hướng thể hiện chưa từng có trước đó. Như vậy có thể khẳng định là AVT đã giữ vai trò độc tôn bằng hình thức tam ca trào phúng. Một thời gian sau, một vài kết hợp dưới hình thức tương tự cũng được ra đời, nhưng không có khả năng thu hút người nghe như AVT, nên đã không tồn tại được bao lâu.

Sau những bài hát trào phúng được nhắc tới ở trên là đến một lọat những bài khác được nhạc sĩ Lữ Liên sáng tác cho ban AVT trình bầy như  Ba Bà Mẹ Chồng, Cờ Người, Em Tập Vespa, vv... Đó là những nhạc phẩm đã lót đường cho ban AVT thăng tiến rất nhanh.  Ngoài những lời lẽ châm biếm trong những bài hát trước đó, người nghe còn cảm thấy rất thích tú với những bài hát được Lữ Liên sáng tác với hình thức lời thanh mà ý tục, tương tự những thi phẩm nữ sĩ Hồ Xuân Hương, trong đó có tác phẩm Cờ Người  đã được phổ nhạc hoàn toàn mang chất AVT độc đáo...

Trong khoảng thời gian từ  60 đến 64, AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc và băng nhạc. Và AVT còn nhận  lời trình diễn cho các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn ở Sài Gòn như Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai, vv...








Từ trái qua phải:  nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, Trường Kỳ, nhạc sĩ Lữ Liên và nghệ sĩ Thúy Liệu tại căn “mobile home” của Lữ Liên  ở thành phố Westminster, nam California năm 2007 


Vào  năm 1965, nhạc sĩ Hoàng Hải được lệnh giải ngũ. Hoàng Hải với tên thật là Lưu Duyên, là anh của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, sau đó sang làm cho đài VOF tức Tiếng Nói tự Do. Nhạc sĩ Lữ Liên được mời vào thay thế và trở thành trưởng ban AVT từ đó. Cùng một lúc ông còn là trưởng ban kịch của Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương. Với các nghệ sĩ : Hoàng Năm, Đỗ Lệnh Trường, Xuân Phúc, Bích Huyền, Cẩm Thúy, Thúy Liệu, Lệ Sửu, v.v...

Sau khi nhận lời trở thành một thành viên của AVT, lúc đó măc dù trong ban không còn ai mang tên có chữ có A ở đầu, nhưng Lữ Liên vẫn giữ nguyên cái tên AVT.  Vì ông cho rằng tên đó đã đi sâu vào tâm hồn quần chúng.  Nhưng ông đã đưa ra một vài đề nghị với một số thay đổi.  Thứ nhất, với vai trò trưởng ban ông đổi danh xưng chính thức cho AVT  là “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT”, thay vì Ban Kích Động Nhạc AVT.

Ngoài ra, còn  có thêm một sự thay đổi quan trọng khác là lọai bỏ 3 nhạc khí Tây Phương để chỉ sử dụng những nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Từ đó Vân Sơn chơi Tỳ Bà, Tuấn Đăng chơi đàn đoản và Lữ Liên sử dụng đàn nhị tức đàn cò.

Tới khoảng thời gian 1966-67, chính phủ Việt Nam theo đuổi chương trình trao đổi văn hóa với các nước Á Châu,  AVT với thành phần trên đã theo Đoàn Văn Nghệ Việt Nam của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ di trình diễn tại rất nhiều quốc gia như Lào, Cao Miên, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nhật Bản, vv...

Sang đến năm 1968 thì “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT” đi vào một thời kỳ có thể gọi là cực thịnh với những chuyến lưu diễn tại rất nhiều quốc gia Âu Châu.

Theo lời yêu cầu của các đồng bào Việt Nam tại Pháp,  chính phủ Việt Nam đã gửi một phái đoàn văn nghệ hùng hậu gồm đầy đủ các bộ môn thi, ca, vũ, nhạc, kịch, vv... dưới sự dìu ắt của nhạc sĩ Hoàng thi Thơ cùng các vũ sư Lưu Hồng và Trịnh Toàn sang Âu Châu trình diễn lần thứ nhất.

Lần ra mắt ở rạp Maubert Mutualité Paris, Lữ Liên đã sáng tác một số bài dành riêng cho AVT như Chúc Xuân, Vòng Quanh Chợ Tết, Tiên Sài Gòn, Gái Trai Thời Đại,  Lịch Sử Mái Tóc Huyền, Mảnh Bằng, 3 Ông Bố Vợ, vv... để trình diễn trước một số khán giả kỷ lục.  Còn một số đông khán giả phải đứng ở ngoài vì hết chỗ.  

Trong lần ra mắt đáng ghi nhớ đó, AVT mặc sức vẫy vùng. Mỗi câu hát là một chuỗi cười và tiếng vỗ tay  vang dội. Giữa mỗi bài hát đều có phần solo nhạc. Tiếng nhạc khí Việt Nam thánh thót, véo von như chim hót khiến khán giả im lặng cơ hồ như nín thở để thưởng thức. Đến phần kết thúc mỗi bài hát thì tiêng vỗ tay vang lên như sấm động. Nhất là  trong tiết mục AVT trình tấu cũng bằng Tỳ Bà, Nhị Huyền và Đàn Đỏan hai nhạc khúc bất tử của Johan Strauss là Le Beau Danube Bleu và Les Flots Du Danube. Khán gỉa đã vỗ tay không ngừng khi chấm dứt.

AVT phải dắt tay nhau ra cám ơn khán giả 3 lần!  Vãn hát, khán giả  đã tràn lên sân khấu vây quanh các nhạc sĩ để khen ngợi. Nhất là các khán giả người địa phương muốn xem tận mắt từng cây đàn của AVT đã sử dụng.

Lần trình diễn đó của AVT đã gây chân động cả Paris. Đi đến đâu người ta cũng nhắc tới AVT. Đó có thể coi như thời kỳ huy hoàng nhất của ban ta ca trào phúng này. Sau đêm trình diễn ở rạp Maubert và sau khi nghỉ một ngày, bộ ba Lữ Liên, Vân Sơn và Tuấn Đăng sang diễn một xuất ở Thụy Sĩ và  một xuất ở Luân Đôn. Sau đó họ lại về Pháp để trình diễn một xuất ở dưới miền nam.

Rồi sau đó, phái đoàn lại tiếp tục đi trình diễn tại Maroc, Algérie, Tunisie, vv... Nơi nào họ cũng gặt  hái được những thành công rực rỡ trước khi trở về Việt Nam. Đó là chưa kể AVT còn có dịp sang trình diễn  tận nước Cộng Hòa Trung Phi  trong thời kỳ lãnh đại của tổng thống Bokassa.








Lữ Liên và người vợ quá cố trong lễ thành hôn của Tuấn Ngọc, con trai của ông bà


Qua năm 1969, lại một lần nữa thể theo lời mời của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam lại cử một đoàn văn nghệ gồm AVT với Lữ Liên, Vân Sơn, Tuấn Đăng cùng 2 nữ ca sĩ Hoàng Oanh và Hà Thanh, vợ chồng nhạc sĩ cổ nhạc Vĩnh Phan, nhạc sĩ Huỳnh Anh và cây sáo Nguyễn Đình Nghĩa sang quốc gia này.  Một chương trình dài 2 tiếng gồm đủ mọi tiết mục được dàn dựng để trình diễn ở tất cả những địa điểm mà anh chị em sinh viên ở Parius tổ chức trong những ngày cuối năm. Chuyến lưu diễn này kéo dài 1 tháng với một thành công rực rỡ.

Ngoài những lần trình diễn chung với 2 nhạc sĩ khác trong AVT, hình ảnh nhạc sĩ Lữ Liên còn ghi đậm nét trong trí nhớ mọi người khi ông cùng nhạc sĩ Hoàng Thi Thao đồng diễn tiết mục “Cò Tây-Cò Ta”, được coi là một tiết mục rất ăn khách vào thời đó, cũng như sau này tại hải ngọai. “Cò Tây-Cò Ta” cũng đã được thu hình trong một chương trình Paris By Night cách đây vài năm, gây được nbhiều thích thú cho khán thính giả.

Rồi đến tháng 4 năm 75, Lữ Liên nhờ  làm cho đài Mẹ Việt Nam nên được đi tàu ra Phú Quốc để rồi được đưa sang đảo Guam trước khi đến Mỹ. Trong khi đó Vân Sơn và Tuấn Đăng bị kẹt lại. Riêng Vân Sơn, một thời gian ngắn sau biến cố tháng 4  năm 75, đã nhảy xuống sông Thị Nghe tự tử. Qua một bài  viết của Băng Đình thì Vân Sơn đã nhảy cầu Thị Nghè tự tử để phản đối sự áp bức của chính quyền mới đối với giới văn nghệ sĩ.

Trong khi về phía chính quyền thì cho là Vân Sơn làm rối loạn trật tự tại chợ Thị Nghè, bị công an khu vực rượt nên sợ quá phải nhảy vội xuống sông Thị Nghè. Vân Sơn, chết vì đầu đập vào một cây gỗ.  Có người hỏi nữ nghệ sĩ Hồng Vân là người đứng ra quyên tiền để chôn cất cho Vân Sơn, về nguyên nhân cái chết của anh. Nhưng Hồng Vân cũng trả lời không biết rõ nguyên nhân.

Về phần nhạc sĩ Lữ Liên, theo một nguồn tin khác cho biết lý do khiến Vân sơn tìm đến cái chết đã đến từ chuyện gia đình...

Một thành viên từ những ngày đầu của ban AVT là Tuấn Đăng hiện nay vẫn hoạt động ở Sài Gòn. Hàng đêm anh hát và đàn tại một quán có tên là Tiếng Dương Cầm trong khu cư xá sĩ quan Chí Hòa.

Còn Anh Linh, người sáng  lập ra AVT, từ khi qua Mỹ theo diện HO đến nay, là ca đoàn trưởng của một giáo xứ ở San Jose.  Vợ chồng anh còn là chủ của một tiệm phở đông khách ở thành phố này.

Sau một thời gian vất vả ở các trại tỵ nạn, các anh chị em nghệ sĩ ở khắp nơi đổ dồn về tiểu bang California lập nghiệp. Nhờ sự yểm trợ của cơ quan USCC, một số anh nghệ sĩ có tên tuổi như Hoàng Thi Thơ, Nam Lộc, Jo Marcel, Lê Quỳnh, Kiều Chinh, Lữ Liên, Vũ Huyến, Ngọc Bích vv... đã được nhận vào làm việc tại cơ quan này.

Một thời gian ngắn sau khi sang đến Mỹ, ban Tam Ca Trào Phúng AVT Hải Ngọai đã được thành lập do ý kiến của nhạc sĩ Lữ Liên.  Và sau một thời gian tập luyện một ban văn nghệ hùng hậu đã được thành lập để cùng kéo nhau sang Paris trình diễn, trong số dĩ nhiên không thể nào thiếu AVT Hải Ngoại với Ngọc Bích, Vũ Huyến và Lữ Liên.

Toàn thể khán giả đã tỏ ra rất thích thú khi được nghe lại những nhâc phẩm trào phúng quen thuộc ngày nào. Yếu tố đó đã khiến cho AVT gặt hái được những thành quả to lớn. Nhưng sau đó, với thời gian, thành phần AVT Hải Ngọai có một vài thay đổi và một số hoạt động cũng như một số sáng tác mới được ghi nhận như sau:

14.2.77: Một lần nữa AVT có sự thay đổi trong thành phần khi Trường Duy vào thay thế cho Ngọc Bích. Cùng với đoàn văn nghệ trên, bộ ba sang Âu Châu trình diễn trong vòng 19 ngày.

01.12.77 : Sẵn có đoàn nghệ sĩ cơ hữu này, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã mang cả đoàn sang cộng hòa Trung Phi trình diễn nhân ngày Hoàng Đế  Bokassa Đệ Nhất đăng quang.

Năm 1987: Nhạc sĩ Anh Bằng đã thực hiện  1 cuốn băng AVT Hải Ngoại đầu tiên do trung tâm Asia phát hành. Trong băng này có một nhạc phẩm mới mang tựa đề Gốc Mít do Lữ Liên và Anh Bằng sáng tác, nói về cuộc đời của những người dân Việt tỵ nạn, lang thang trên khắp thế giới để tìm miếng cơm manh áo. Gặp nhau cũng không biết là người đồng hương,với những cảnh ngộ trớ trêu, cười ra nước mắt.

AVT với tiếng hát Lữ Liên, Vũ Huyến và Trường Duy và bài mới thứ 2 của nhạc sĩ Anh Bằng mang tựa đề Canh Cua Rốc, mô tả những chàng tai tỵ nạn xa quê hương thèm món canh cua từng đêm như thèm khát những vóc dáng xinh xinh.

Năm 1988: thành phần AVT được tăng cường thêm nữ nghệ sĩ Thúy Liệu đã sang Úc trình diễn tại Sydney trong một chương trình kịch vui kéo dài trong 10 ngày.

Năm 1992: AVT có một sự thay đổi với Hoàng Long vào thay thế cho nhạc sĩ Vũ huyến, đã cùng nhau thực hiện một băng cassette, thu thanh tại phòng thu Tùng Giang và do trung tâm Khánh Hà phát hành. Trong băng này có một sáng tác mới của Lữ Liên là Trận Cầu Quốc Tế, mô tả cuộc trực tiếp truyền thanh của AVT trong 1 trận cầu giao hữu nhưng không kém phần quyết liệt của 2 đội banh, một nam, một nữ từ Âu Mỹ đến Việt Nam. Khán giả Sài Gòn được xem nhiều pha gay cấn đầy nghệ thuật tân kỳ. Tuy chỉ là giả tưởng, nhưng với những “sound effects”, người nghe có cảm tưởng như đang tham dự một trận cầu thật.

Năm 1994, vào dịp Xuân Giáp Tuất trung tâm Giáng Ngọc tung ra cuốn video đầu tiên của AVT tại hải ngọai. Dựa theo một áng thơ tuyệt tác của nữ sĩ Hồ Xuân hương, nhạc sĩ Lữ Liên lần đầu tiên trình diễn chung với 2 nữ nghệ sĩ Thúy Lan và Thúy Hương để trình bầy nhạc phẩm Đánh Đu, với phần nhạc do Lữ Liên tự đảm trách, nhạc sĩ Ngọc Bích hòa âm và sử dụng Keyboard.

Ở trên là những chi tiết người viết thu thập được phần lớn từ người được coi như linh hồn của ban Tam Ca Trào Phúng AVT là Lữ Liên trong thời kỳ ông còn minh mẫn.  Trong lần đến thăm ông gần đây, sức khỏe của ông có phần sa sút hơn xưa. Nhất là sau khi bị té nặng vào năm ngoái, 2007. 

Sau lần đó, trí nhớ của nhạc sĩ Lữ Liên tỏ ra kém hẳn trước với một giọng nói không còn được linh họat, nếu không muốn nói là thiếu sự liên tục. Thật ra tình trạng này đối với số tuổi 91 của ông cũng là bình thường.  Mặc dù vậy, nhạc sĩ Lữ Liên vẫn còn cung cấp được cho tôi một số chi tiết liên quan đến tiểu sử của ông…

Ông mang họ Lã, sinh trưởng ở Hải Phòng  trong một gia đình mà thân phụ ông cũng là một nghệ sĩ, ngoài việc làm chính ở sở Bưu Điện.  Khi Lữ Liên còn nhỏ, thân phụ ông đã đứng ra lập một gánh hát cổ nên ông đã có dịp gần gũi với những âm thanh nhạc cổ truyền.  Ông trưởng thành trong khung cảnh văn nghệ đó nên đã chịu nhiều ảnh hưởng để sau đó trở thành một nghệ sĩ tài ba mà sự đóng góp của ông được coi như rất lớn lao cho nền âm nhạc Việt Nam…

( trích từ www.tivituansan.com.au )

(in reply to anhchangdeghet)
Post #: 147
RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nh... - 11/15/2009 6:31:38 PM   
nguoiyeunhac

 

Posts: 110
Joined: 6/1/2006
Status: offline
Cam on Anhthoa da tim nhung bai viet hay de dang vo day.

(in reply to anhthoa)
Post #: 148
Page:   <<   < prev  4 5 6 7 [8]
All Forums >> [Thúy Nga Female Singers] >> Hoàng Oanh >> RE: Góc riêng cho Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ, và nguồn gốc nhiều ca khúc Page: <<   < prev  4 5 6 7 [8]
Jump to:





New Messages No New Messages
Hot Topic w/ New Messages Hot Topic w/o New Messages
Locked w/ New Messages Locked w/o New Messages
 Post New Thread
 Reply to Message
 Post New Poll
 Submit Vote
 Delete My Own Post
 Delete My Own Thread
 Rate Posts




Forum Software © ASPPlayground.NET Advanced Edition 2.5.5 Unicode